Rất cần biết về thoát vị đĩa đệm cổ

Đau vùng cổ vai là bệnh lý khá phổ biến, bệnh do nhiều nguyên nhân, thường xảy ra ở người lớn, đặc biệt từ trên 40 tuổi, làm ảnh hưởng nhiều đến năng xuất lao động xã hội. Tỷ lệ mắc bệnh đĩa đệm cột sống cổ chiếm 36,1%, đứng thứ hai sau bệnh lý đĩa đệm cột sống thắt lưng.

thoát vị đĩa đệm cổ
thoát vị đĩa đệm cổ

Thoát vị đĩa đệm cổ và những điều nên biết

Vì vậy, nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân các chứng bệnh đau cổ – vai, đồng thời điều trị và dự phòng các chứng bệnh này là một yêu cầu cấp thiết đối với đời sống xã hội, đòi hỏi sự kết hợp của nhiều chuyên ngành nội, ngoại khoa, điều trị lý liệu, phục hồi chức năng.

Biểu hiện của thoát vị đĩa đệm cột sống cổ thường được chia thành ba nhóm: nhóm bệnh lí rễ và nhóm bệnh lí tủy và nhóm vừa có biểu hiện của bệnh lí rễ vừa có biểu hiện của bệnh lý tủy.

Các phương pháp chữa bệnh được chia thành hai nhóm: bảo tồn (điều trị nội khoa) và can thiệp ngoại khoa.

1. Điều trị bảo tồn:

– Chế độ bất động (immobilisation): 5 – 7 ngày đầu đối với những trường hợp cấp tính.

– Chế độ nghỉ ngơi một phần: tránh những động tác làm bệnh nặng thêm, tăng cường nằm nghỉ tại giường khi đau nhiều.

– Bất động cột sống cổ bằng đai cổ (neck collar) hoặc đai quấn để cố định cổ trong tư thế sinh lý. Dùng đai cổ kéo dài phải kết hợp điều trị và tập luyện để tránh tình trạng phụ thuộc vào đai cổ và giảm trương lực cơ cổ.

– Thuốc giảm đau, chống viêm.

– Thuốc chống viêm steroid và không steroid.

– Thuốc giãn cơ.

– Vitamin nhóm B liều cao.

– Phóng bế tại chỗ và cơ thang trước làm giảm co cứng cơ do đau và chống phù nề rễ thần kinh.

– Vật lý trị liệu: tia hồng ngoại, điện phân, điện xung, tắm nóng tác dụng làm giảm co cứng cơ, giảm phù nề rễ thần kinh, thay đổi vận mạch ở rễ tủy.

– Xoa bóp bằng tay.

– Kéo giãn cột sống cổ.

Xem thêm: bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

bệnh thoát vị đĩa đệm cổ
bệnh thoát vị đĩa đệm cổ

2. Điều trị phẫu thuật

* Chỉ định phẫu thuật:
+ Điều trị bảo tồn ở cơ sở có trình độ chuyên môn cao, kỹ thuật điều trị tốt, có kinh nghiệm mà không có kết quả, bệnh có xu hướng tăng lên.

+ TVĐĐ cột sống cổ có hội chứng rễ – tủy.

* Các phương pháp phẫu thuật:

+ Mổ đường sau: cắt cả cung hoặc nửa cung sau vào lấy bỏ đĩa đệm.

+ Mổ đường trước – bên cổ (lấy bỏ đĩa đệm bằng hai cách).

– Rạch da vùng gian đốt tương ứng với vùng TVĐĐ, vén cơ vùng cổ bên ra ngoài, khí quản và thực quản vào trong. Sau khi xác định đúng vị trí vùng gian đốt, dùng khoan đặc biệt khoan cả xương và phần vòng sợi cho tới đĩa đệm. Sau khi lấy hết tổ chức đĩa đệm, dùng xương mào chậu chám vào phần khuyết xương đó.

– Vi phẫu: rạch vùng gian đốt nhỏ hơn 1cm2. Dùng microcuret và rongeur lấy hết tổ chức đĩa đệm, không cần tạo hình xương cột sống, tránh được các biến chứng do kết ghép xương.

Khi bệnh nhân có các triệu chứng nói trên cần đến khám ở cơ sở y tế chuyên khoa, tốt nhất là gặp các bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.

Xem thêm: bị thoát vị đĩa đệm

Giải phẫu và sinh hóa học đĩa đệm thắt lưng

Đĩa đệm thắt lưng có hai thành phần, đó là khối dịch sệt bên trong, nhân nhày và sợi bản sống. Một phức hợp sụn sợi tạo thành mặt khớp giữa hai  thân sống và giữ chặt liên sống để làm cho ống sống hoạt động theo đúng trục.

Nhân đĩa đệm nằm theo một vòng tròn không đồng tâm có vòng xơ bao bọc, thường gần bờ sau của đĩa. Nhân đệm bao gồm những dải xơ thường mềm mại và lỏng bọc sâu bên trong chất keo gelatin. Những sợi tạo thành một tấm lưới không đều nhau. Trong mạng sợi này là nhiều tế bào, một vài trong số đó là tế bào sụn. Trong số nhân này có sự pha trộn không nhiều cùng với vòng xơ. Các cấu trúc hiện nay cho thấy rằng các vòng không đồng tâm của hệ thống sợi nhằm bao bọc nhân để giúp cho đốt sống liên kết chặt với nhau. Những tấm sợi này theo một hệ thống dọc. Về phương diện sinh tồn, chức năng của đĩa đệm đủ để chịu lại một lực ép trong đốt sống, với chức năng chính của vòng xơ là chống lại lực căng cả hướng ngang hoặc khi vặn xoắn.

Thoát vị đĩa đệm thắt lưng
Thoát vị đĩa đệm thắt lưng

Nói chung, nếu tính tổng cộng đốt sống ( trừ xương cùng-cụt ra ), chiều dài đĩa đệm khoảng ¼ chiều dài của toàn bộ đốt sống nhưng mức độ phân phối không giống nhau. Theo Aeby kết luận rằng tùy theo khu vực đốt sống mà chiều dài đĩa đệm có thể thay đổi khác nhau, 1/5 chiều dài đốt sống cổ, 1/5 chiều dài đốt sống ngực và 1/3 chiều dài đốt sống thắt lưng.

Như vậy, nhân đệm bao gồm chất keo protein-polysaccharide, với một áp lực hấp thu cao gấp 9 lần thể tích nước của nó. Do dưới một áp lực cơ học, nước có thể bị hấp thụ từ nơi nhân đệm và như vậy, đây là hiện tượng sinh vật lý hơn là hiện tượng sinh hoá học. Người ta nhận thấy rằng chiều dài đốt sống giảm đi rõ rệt nhưng về đêm thì chiều dài đốt sống trở lại như cũ do hiện tượng giữ nước được tái lập khi nằm nghỉ.

Bảng sụn tận cùng là một lớp bề mặt nằm giữa thân sống và đĩa đệm, được gọi là sụn thấu quang (hyaline cartilage). Bảng sụn thấu quang nầy được bám chặt vào bảng tận cùng thân sống được gọi là lá sàn (sieve-like layer). Đây được coi như là một lớp vôi hóa với những lỗ trong suốt nối  khoang tủy xương với màng tận cùng để cung cấp dinh dưỡng cho đĩa đệm

Xem thêm: cách điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống lưng

Sinh hóa học đĩa đệm thắt lưng

Vòng xơ của đĩa liên đốt sống bình thường bao gồm các sợi collagen, phần lớn các sợi collagen này là collagen type 2, ngoài ra còn có kết hợp của collagen type 1, số lượng collagen type 1 giảm nhiều hơn ở đoạn cuối . Nhân đĩa điệm gồm proteoglycans, nhất là chondroitin sulphates A và C, kratosulphate và dermatan sulphate với một số lượng nhỏ hyaluronic acid, tất cả gộp chung lại tạo thành những phân tử proteoglycans .Thành phần dịch của nhân đệm lúc sanh là 88% và giảm đến 65% khi có tuổi .Trong khi 78% vòng xơ là nước lúc sanh rồi giảm đến 70% khi lứa tuổi trung niên. Khi đĩa đệm bị thoái hoá, thành phần nước được thay đổi dẫn đến giảm proteoglycan biểu hiện ở lứa tuổi còn trẻ. Bình thường có sự cân bằng giữa sự tổng hợp và sự suy giảm proteoglycan trong đĩa đệm. Về phương diện thực nghiệm, sự tổng hợp này xảy ra tại vị trí nối nhân -vòng xơ. Sự dinh dưỡng bình thường của đĩa đệm được duy trì bởi sự trao đổi dịch, chuyển hoá và oxygen giữa dòng máu và đĩa điệm. Điều này tuỳ thuộc vào :

1. Lực đẩy ra do:

 – Hoạt động của cơ

 – Sức hút

2. Lực thẩm thấu và lực ion

3. Tính thấm của màng tận cùng

4. Sự cung cấp  máu của thân sống tại chỗ nối với màng tận cùng thân sống

Xem thêm: thoát vị đĩa đệm có nên mổ không

Incoming search terms:

  • giải phẫu đĩa đệm