Mẹo “xóa sổ” bệnh đau nhức ở lưng

Đau nhức ở lưng là bệnh lý có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường xuất hiện ở tuổi luống tuổi. Là bệnh thường gặp thứ hai, sau nhức đầu. Dưới đây là những cách đơn giản để bạn không còn bị khó chịu, mỏi mệt khi đau nhức ở lưng.

dau-lung-o-phu-nu

Có khoảng 80% trường hợp bị đau lưng lần đầu không rõ căn do, chỉ có 6 – 8% trường hợp do bị lệch đĩa cột sống cột sống. Có trên 50% người bệnh đau lưng khỏi trong vòng 2 tuần, nhưng hàm lượng tái phát khá cao sau một tháng trở lên; từ 5-10% bệnh nhân bị đau vùng thắt lưng cấp chuyển thành kinh niên.

Bệnh đau lưng thường xuất hiện ở những cá nhân hay phải ngồi hoặc đứng khom lưng lâu, ít cử động thể lực, như nhân viên công sở, lái xe, thợ may…; Những thanh thiếu niên mài miệt chơi games hay bị đau ê ẩm vùng lưng từ trẻ, do để lưng làm việc lâu trong phong độ phản khoa học.

Nhiều người đau ê ẩm vùng lưng do va chạm, nằm ngồi, bê, khiêng vác, làm việc với máy tính, ngủ tư thế hoạt động sai… Khiến các dây chằng và mô mềm vùng thắt lưng bị giãn và cơn đau xuất hiện.

Sử dụng thuốc giảm đau

Sử dụng thuốc giảm đau dường như là một cách cụ thể giúp bạn bớt bệnh nhưng nhiều người có khuynh hướng làm lơ phương pháp này vì cho rằng thuốc sẽ che mất cơn đau và làm bệnh tồi tệ hơn.

Thực sự, bạn sẽ không gặp bất kỳ vấn đề nào nặng nề hơn hơn khi dùng thuốc. Nó giản đơn chỉ xoa dịu cơn đau, giúp bạn dễ dãi tìm cách ứng phó thôi.

Massage

Dùng tay xoa, bóp, day, đấm, chặt khoan khoái hai bên cột sống khoảng 30 phút. Có thể sử dụng các động tác kéo rút như trong massage, nhưng phải nắm được kỹ thuật và bảo đảm an toàn cho người bệnh.

Khoan khoái xoa và cọ xát các khu vực khó chịu sẽ kích thích sự lưu thông của hệ thống bạch máu, từ đó giảm viêm nhiễm.

Nằm nghỉ ngơi

Phong độ nằm ngửa thả lỏng người thoải mái trên giường cứng, không nằm giường có đệm mềm để tránh đè ép vào mạch máu và cơ. Đảm bảo nguyên tắc giữ đường cong sinh lý cột sống, đầu, vai, mông, gót chân chạm giường.

Dùng một gối lót dưới cột sống cổ, chú tâm không được kê gối trên đầu. Một gối mỏng kê dưới lưng. Một gối kê dưới kheo. Sau 30 phút, nhẽ nhõm xoay nghiêng người để đổi thay phong thái. Khi dậy, xoay người nằm nghiêng để dậy dần dà. Phương pháp có thể kéo dài tối đa trong 3 ngày, nếu không khỏi thì cần phải đi khám bác sĩ chuyên khoa.

Cải thiện phong độ

Có những nếp xấu như đi thõng vai xuống, ngồi quá lâu trước màn hình TV hay máy tính… Có thể là căn do phổ biến nhất khiến bạn đau lưng.

Tránh bắt chéo chân vì điều này khiến khung xương chậu bị vặn và cột sống có thiên hướng vặn ngược lại để bù đắp.

Đứng thẳng, ngồi ở tư thế đúng có thể giúp giảm đau ê ẩm vùng lưng đáng kể.

Kéo giãn cột sống

Tốt nhất là dùng áo treo cột sống. Có thể đu hai tay trên xà, hoặc treo người ngược kiểu phong thái tập xà trong vòng 5 – 10 phút. Cách thức này vận dụng trong 2 ngày, nếu không đỡ thì phải chuyển cách thức khác hoặc khám chuyên khoa.

Uốn cong lưng

Cách làm này để giảm sút một vài găng tay ở cột sống trên. Ngồi thẳng lên, thư giãn vai và bàn tay, tiếp theo đẩy trọng tâm của lưng về phía chỗ ngồi của bạn, đưa vai về phía trước. Giữ và thở. Sau đó nâng khung xương sườn của bạn lên một chút và về phía trước. Thở lại. Lặp lại phong độ uốn cong này vài lần.

Vặn xương sống

Vặn xương sống là cách để giảm găng và xúc tiến năng lượng tăng lên.

Trong trường hợp này bạn sẽ giữ thân trên và đưa hông của bạn hướng về phía trước. Nếu bạn ngồi trong xe hơi, đó là động tác xoắn vai trên cơ thể. Nếu đó là bàn làm việc thì bạn có thể xoay sâu hơn. Trong phong độ này bạn hãy để hai bàn tay đặt thoải mái trên bàn làm việc hoặc vô lăng, xoắn xương sườn và vai phải của bạn với điểm tựa là tay lái hoặc bàn. Đây là một động tác nhỏ nhưng mang đến sự tích cực làm việc.

Tập Yoga

Yoga là một giải pháp tót vời trong việc cải thiện cơ bắp. Nó cũng giúp bạn nâng cao sự linh hoạt của lưng và giúp lưng ít bị chấn thương hơn.

Rất nhiều người đã nâng cao bệnh đau lưng của mình bằng việc tập yoga.

Tránh thuốc lá

Hút thuốc sẽ hạn chế khả năng tự chữa lành vết thương, làm tăng nguy cơ viêm nhiễm và ảnh hưởng tới sự hấp thu canxi của thân. Cho nên, hãy ngừng hút thuốc khi bị đau nhức ở lưng, dù bạn chỉ bị đau nhẹ hay mãn tính.

Liệu pháp nóng – lạnh

Ích lợi của việc áp dụng liệu pháp nóng và lạnh có thể không giống nhau với mỗi cá nhân. Nhưng kỹ thuật giản đơn này có giá trị đáng kể.

Chườm nóng: dùng khăn tẩm nước nóng vừa phải đắp lên đoạn cột sống lưng trong vòng 30 phút để làm giãn cơ, dây chăng, mạch huyết. Cách thức này chỉ áp dụng trong 24 giờ đầu tiên.

Chườm lạnh: dùng túi đựng nước đá chườm lên đốt sống thắt lưng trong vòng 30 phút, có tác dụng co mạch, làm giảm đau tức thời. Cách thức chỉ vận dụng khi đau trong vòng 24 tiếng.

Bài viết tham khảo:

=> Tham khảo cách chữa đau lưng hiệu quả khác

Căn do triệu chứng cách chữa trị chữa khỏi bệnh đau lưng

Đau lưng do sự co cơ bắp tạo ra các cơn đau điếng đều đặn và giai giẳng dọc vùng lưng như: vùng lưng trên, vùng lưng dưới, vùng ngang lưng dưới, đau liên sườn, đau dọc vùng mông kéo xuống chân, có thể gây tê buốt chân hoặc có nhưng cơn đau rút chân khi cúi, ngửa, vặn mình. Có bệnh nhân khi ngồi lâu, thường bị những cơn đau điếng lưng dữ dội, phải nằm nghiêng bất động mới giảm sút. Vùng lưng giữa là vùng dễ bị thương tổn nhất, khi gặp vấn đề có thể tạo ra các cơn đau nhức khôn xiết khó chịu và làm cho sức khỏe bệnh nhân bị suy sụp.

can benh dau lung

Căn nguyên bệnh đau nhức ở lưng

Có khoảng 80% trường hợp bị đau nhức ở lưng lần đầu không rõ nguyên cớ, chỉ có 6 – 8% trường hợp do bị lệch đĩa xương sống cột sống. Có trên 50% bệnh nhân đau lưng khỏi trong vòng 2 tuần, nhưng tỷ lệ tái phát khá cao sau một tháng trở lên; từ 5-10% người bệnh bị đau vùng thắt lưng cấp chuyển thành mạn tính.

Các căn do bệnh đau nhức ở lưng thì nhiều, nhưng có thể phân làm 3 loại chính

1. Căn nguyên do xương khớp bị thương tổn

Đau nhức ở lưng do thận hư, thấp khớp, viêm tủy xương, hoại tử xương, viêm khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp, khớp bị lão hóa, thoái hóa đĩa đệm cột sống, xoắn vặn vùng giãn đốt sống, chứng gù vẹo cột sống, gãy xương, loãng xương, trượt đốt sống, hẹp ống sống hoặc đĩa xương sống bị xô lệch, khe đốt sống bị hẹp lại… đều có thể sinh đau lưng.

2. Căn nguyên do quá trình cử động

Bệnh đau ê ẩm vùng lưng ở giới trẻ tuổi như nhóm thanh thiếu niên được gây ra bởi miệt mài chơi games hay bị đau nhức ở lưng từ trẻ, do để lưng làm việc lâu trong tư thế không đúng. Nhiều người đau ê ẩm vùng lưng do va, nằm ngồi, bê, khiêng vác, làm việc với máy tính, ngủ tư thế hoạt động sai,  lao động bị tư thế hoạt động sai nghiêm trọng hoặc do chấn thương đốt sống lưng đột ngột, phụ nữ khi có thai 3 tháng đầu… khiến các dây chằng và mô mềm vùng thắt lưng bị giãn và cơn đau xuất hiện.

3. Căn do do di truyền

Nếu cha mẹ có cấu trúc xương cột sống vùng lưng yếu thì con cũng rất dễ bị mắc bệnh

Một vài nguyên cớ khác gây đau ê ẩm vùng lưng

+ Phụ nữ trong kỳ có kinh hoặc mang thai thường đau ở vùng lưng dưới là chuyện bình thường. Không những thế các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột, ở thận, niệu quản, bóng đái người bệnh cũng cảm thấy đau nhức ở lưng cấp hoặc mãn.

+ Đau cạnh cột sống lan tỏa ở cả hai phía của cột sống, có thể thấy tăng nhạy cảm đau ở giữa mỏm gai đốt sống hoặc ở vùng khớp diện của đốt sống do các nguyên do thường gặp như chấn thương của phần diện khớp, căng giãn cơ, hoặc là các vết rách nhỏ của vòng xơ đĩa đốt sống.

Biểu hiện bệnh đau ê ẩm vùng lưng

Các biểu hiện của bệnh đau lưng có thể bao gồm

– Đau cơ bắp.

– Đau mà tỏa xuống chân.

– Giới hạn tính linh hoạt hoặc các chuyển động.

– Không có trình độ đứng thẳng.

Đau ê ẩm vùng lưng kéo dài từ vài ngày đến vài tuần được tin là cấp tính. Đau kéo dài trong ba tháng hoặc lâu hơn được tin là kinh niên.

Đại đa phần đau nhức ở lưng từng bước cải thiện với chữa trị tại nhà và tự chăm chút. Mặc dù cơn đau có thể mất vài tuần để biến mất hoàn toàn, nên ghi chép một vài tiến triển trong vòng 72 giờ trước tiên của tự chăm sóc.

Hệ quả bệnh đau lưng

Sau khi bệnh đau lưng diễn ra, bệnh sẽ gây nên các hậu quả ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh. Suy giảm khả năng lao động và cử động trong sinh hoạt của người bệnh. Ngoài những cơn đau buốt thông thường, nếu không được chữa trị kịp thời người bệnh có thể bị teo cơ, teo chân thậm chí còn có thể bị tàn phế suốt đời.

Chữa trị bệnh đau nhức ở lưng

Trong trường hợp bạn bị hành hạ bởi các cơn đau rất nặng và liên tiếp, bạn nên đến gặp các chuyên gia bác sĩ để xác định rõ nguyên nhân, đưa ra phương pháp điều trị tốt nhất và kịp thời giúp bạn giảm đau, phục hồi nhanh nhất có thể.

•    Bổ sung lượng canxi cấp thiết hàng ngày.

•    Hấp thụ đủ lượng axit folic có trong rau quả, trái cây.

•    Uống thật nhiều nước giữ cho thân thể không bị khô.

•    Rèn luyện thực hiện các phong thái chuẩn xác.

•    Tìm hiểu và luyện tập các bài tập, kỹ thuật thở giúp thư giãn cơ hoành.

•    Giáo dục lề thói nâng vật nặng đúng đắn.

•    Khi công việc đòi hỏi phải đứng hoặc ngồi trong thời gian dài, cần tận dụng tối đa thời cơ di chuyển, thay đổi tư thế và phát động lưng, chân, tay.

•    Ngủ đủ giấc, không ít hơn 8 tiếng 1 ngày.

•    Ngủ trên loại đệm thích hợp, có lợi cho lưng.

•    Khi ngủ nên đặt gối ở dưới đầu gối nếu nằm ngửa, kẹp giữa hai chân nếu nằm nghiêng để hỗ trợ cho lưng và tuyệt đối không nên nằm sấp.

•    Không vận động quá sức hoặc căng lưng giữa không cấp thiết.

•    Dừng ngay các hoạt động thân gây nhiều ảnh hưởng lên lưng, đặc biệt là sau những tuần đầu điều trị.

•    Giảm tối đa bao tay ý thức.

•    Thực hiện các bài tập luyện kéo giãn để tăng cường sức khoẻ và thả lỏng khớp lưng giữa.

•    Phương pháp trị liệu phản xạ khá hiệu nghiệm trong việc giảm đau lưng, thêm nữa mát xa và châm cứu cũng là giải pháp tốt.

•    Có thể dùng thuốc giảm đau nếu cơn đau quá gay gắt.

•    Sử dụng thuật nắn khớp xương.

•    Dùng các dụng cụ tương trợ lưng.

•    Chườm nóng giúp giảm đau và sưng tấy.

•    Chườm lạnh cũng có thể giúp ích khá nhiều.

•    Chú tâm tới nồng độ đường và carbohydrate hấp thu hàng ngày.

Chỉ dẫn chi tiết một vài phương pháp chữa trị chữa khỏi bệnh đau ê ẩm vùng lưng hiệu quả không cần sử dụng thuốc

1. Nằm ngơi nghỉ: phong thái nằm ngửa thả lỏng người thoải mái trên giường cứng, không nằm giường có đệm mềm để tránh đè ép vào mạch máu và cơ. Bảo đảm nguyên tắc giữ đường cong sinh lý cột sống, đầu, vai, mông, gót chân chạm giường.

Dùng một gối lót dưới vùng cột sống cổ, lưu tâm không được kê gối trên đầu. Một gối mỏng kê dưới lưng. Một gối kê dưới kheo. Sau 30 phút, dễ chịu xoay nghiêng người để biến hóa phong thái. Khi dậy, xoay người nằm nghiêng để dậy dần dần. Phương pháp có thể kéo dài tối đa trong 3 ngày, nếu không khỏi thì cần phải đi khám thầy thuốc chuyên khoa.

2. Kéo giãn cột sống: Tốt nhất là sử dụng áo treo cột sống. Có thể đu hai tay trên xà, hoặc treo người ngược kiểu tư thế tập xà trong vòng 5 – 10 phút. Cách thức này áp dụng trong 2 ngày, nếu không đỡ thì phải chuyển phương pháp khác hoặc khám chuyên khoa.

3. Massage: dùng tay xoa, bóp, day, đấm, chặt nhẹ nhàng hai bên cột sống khoảng 30 phút. Có thể dùng các động tác kéo rút như trong mát xa, nhưng phải nắm được kỹ thuật và đảm bảo an toàn cho người bệnh.

4. Chườm nóng: dùng khăn tẩm nước nóng vừa phải đắp lên cột sống lưng trong vòng 30 phút để làm giãn cơ, dây chăng, mạch huyết. Phương pháp này chỉ vận dụng trong 24 giờ trước nhất.

5. Chườm lạnh: sử dụng túi đựng nước đá chườm lên cột sống thắt lưng trong vòng 30 phút, có công dụng co mạch, làm giảm đau tức thời. Cách thức chỉ vận dụng khi đau trong vòng 24 tiếng.

Dẫu vậy bạn cần chú ý, nhiều khi các cơn đau ê ẩm vùng lưng giữa trở thành rất đáng cảnh báo và cần phải đến gặp các chuyên gia thầy thuốc để chữa trị kịp thời, đặc biệt là khi bạn bị đau hàng ngày, hàng giờ không khỏi hoặc chừng mực đau quá gay gắt.

Chúc bạn và gia đình luôn khỏe mạnh !

Bài viết tham khảo:

=> Xem thêm cách chữa đau lưng hiệu quả

Dấu hiệu và những phương pháp chữa trị bệnh thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa xương sống cột sống là một bệnh khá phổ biến, có thể gây tàn phế suốt đời do bị liệt, teo cơ chi, hay chứng đi ngoài không tự chủ được do rối loạn cơ tròn, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của bệnh nhân.

benh-thoat-vi-dia-dem-co

Khi bệnh nhân mắc phải bệnh thoát vị đĩa cột sống ở tuổi  năng nặng, chữa trị thường tốn kém và giải phẫu khá đáng cảnh báo, do đó cần chủ động phòng tránh.

Bệnh nhân Phạm Thị Tuyết Mai, tới chữa trị thoát vị đĩa đệm tại bệnh viện Việt Đức là một ví dụ cho bệnh lý này. Bệnh nhân Mai đã bị thoát vị đĩa xương sống 15 năm, cho biết lúc đầu chỉ là những cơn đau ở tay và chân, sau cơn đau lan dần và buốt. Như nhiều người, bệnh nhân đã tìm đến đông y để điều trị, nghe đâu bệnh không khỏi và có dấu hiệu xấu hơn. Trải qua rất nhiều cuộc phẫu thuật ở nước ngoài, nhưng chỉ một thời gian ngắn bệnh lại tái phát.

Bệnh nhân Phạm Thị Tuyết Mai cho biết: “lúc đầu tôi có dấu hiệu tê chân, đau nhức ở lưng, thì chỉ dạy tôi bị thoát vị đĩa đệm và chèn ép dây thần kinh. Chân tôi rất buốt, đau, đi không được, ở nể được, thở cũng khó khăn, đồng thời đôi chân tím đen lại”.

Đĩa xương sống cột sống là hình đĩa nằm giữa 2 đốt sống, có tác dụng giống như bản lề giúp cho cột sống được bền chắc, khác thường là giúp cho thân hoạt động đoạn cổ và lưng dưới. Các nghiên cứu cho thấy thoát vị đĩa đệm không tác động đến tuổi mà do thoái hoá đĩa cột sống, cột sống thiếu dẻo mềm, mất trương lực, mất tính đàn hồi, giảm chiều cao. Các động tác đột ngột ở phong thái xấu hoặc nâng vật nặng ở vị trí xoay thân thể cũng có thể gây thoát vị đĩa cột sống.

PGS.TS Nguyễn Văn Thạch, Chủ nhiệm khoa giải phẫu Cột sống, Phó GĐ Bệnh viện Việt Đức cho biết: “Khi người bệnh bị thoát vị đĩa đệm là trong đĩa đốt sống đã kém nhân nhầy, các vòng cơ bị xơ hóa. Nhân nhầy là một phần cứng, vì vậy khi viêm dị ứng như thế sẽ dẫn đến thoái hóa đĩa cột sống, có nghĩa khô đĩa xương sống lại. Khi bị thoái hóa đĩa cột sống, bệnh nhân có triệu chứng bị đau lưng, sau đó lan xuống chân. Tùy theo đĩa đốt sống bị thương tổn như thế nào, bệnh nhân sẽ thấy đau lan xuống mặt sau của đùi hoặc đau xuống chi dưới, gót chân. Đối với thoát vị đĩa đốt sống cột sống (thắt lưng) bệnh nhân có thể không đi lại được, không có tài năng co chân. Đối với thoát vị đĩa cột sống đốt sống cổ, nếu nặng bệnh nhân có thể bị liệt hoàn toàn”.

Thoát vị đĩa cột sống được chia ra làm 4 giai đoạn, những cá nhân mới ở tuổi đầu chỉ chữa trị bằng nội khoa và khôi phục chức năng. Ở thời đoạn 2 và 3 có thể chữa trị bằng sóng cao tần. Các thầy thuốc cho biết, trong 100 trường hợp bị thoát vị đĩa cột sống thì chỉ có 7 trường hợp phải giải phẫu.

PGS.TS Nguyễn Văn Thạch cho biết thêm: “Sóng cao tần là cách thức điều trị, tái hiện nhân nhầy đĩa xương sống bằng sóng cao tần. Có nghĩa, sẽ phục hồi lại đĩa đốt sống bị chấn thương tổn nhưng chưa hỏng hoàn toàn. Hai giai đoạn sau, bệnh nhân đều phải điều trị bằng phẫu thuật nội soi, điều trị thoát vị đĩa đốt sống lệch bên trái hoặc bên phải. Với cách chữa trị bằng sóng cao tần, sẽ rất an toàn đối với bệnh nhân, khi chữa trị bệnh nhân có thể tỉnh hoàn toàn”.

Khi đã bị thoát vị đĩa đốt sống, người bệnh cần phải vận dụng bổ sung các biện pháp đề phòng bệnh tái phát. Thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày thích nghi với tình trạng đau đoạn cột sống lưng. Để tránh tải trọng nhiều vô kể lên cột sống, người bệnh thoát vị đĩa xương sống đốt sống lưng cần đeo đai lưng hay người bệnh thoát vị đĩa cột sống vùng cột sống cổ cần đeo yếm cổ. Cần tập thể dục khoan khoái thường xuyên, không quá sức để cải thiện thể lực.

Thoát vị đĩa cột sống: Có nên không mổ?

Nghiên cứu đã phân tích số liệu theo dõi 8 năm của 1.244 bệnh nhân được chữa trị tại 13 cơ sở trên khắp nước Mỹ từ thể nghiệm Nghiên cứu thành quả người bệnh cột sống (SPORT), một trong những thể nghiệm lâm sàng lớn nhất thuộc loại này. Trong thử nghiệm này, những người bệnh thỏa mãn các tiêu chuẩn nghiêm chỉnh của chẩn đoán thoát vị đĩa xương sống được phẫu thuật hoặc chữa trị không phẫu thuật như vật lý trị liệu, tập luyện và thuốc giảm đau.

benh-thoat-vi-dia-dem-co (2)

Thành quả này đã bổ sung thêm bằng chứng về điều trị ngoại khoa đối với thoát vị đĩa xương sống nhưng cũng cho thấy điều trị không giải phẫu có thể đem lại lợi ích trong thời gian dài cho một số bệnh nhân. Bệnh nhân bị thoát vị đĩa cột sống thường bị đau ê ẩm vùng lưng, đau chân (đau tâm thần tọa) và những triệu chứng khác do rễ tâm thần tủy sống bị chèn ép.
Họ được chia ngẫu nhiên nhóm phẫu thuật (mổ cắt đĩa xương sống) hoặc không giải phẫu, mặc dầubệnh nhân được phép đổi nhóm chữa trị. Với những người bệnh còn lại, quyết định mổ hay không mổ là tùy vào người bệnh và thầy thuốc của họ. Những thông số đánh giá chuẩn về đau chức năng thể chất và mất khả năng cần lao được so sánh giữa các nhóm.

Kết quả cho thấy người bệnh được phân vào nhóm giải phẫu có thiên hướng thành tựu tốt hơn. Dẫu vậy, vì nhiều người bệnh không thực sự điều trị theo cách đã được chỉ định, nên sự khác biệt dựa vào “dự định chữa trị” là không đáng kể.

Thế nhưng, khi so sánh những người bệnh đã mổ thực quan với người bệnh không mổ thì sự khác biệt trở nên rõ như ban ngày. Theo thang điểm đau 100 điểm, điểm đau trung bình của nhóm mổ thấp hơn nhóm kia 11 điểm. Các tham số đánh giá chức năng thể chất và mất năng lực cần lao cũng có dị biệt tương tự.

Phẫu thuật cũng mang đến sự cải thiện lớn hơn ở một số kết quả khác bao gồm khó chịu do triệu chứng tâm thần tọa, sự thỏa lòng của bệnh nhân và mức độ tự đánh giá về bệnh.

Tuy kết quả điểm làng nhàng tốt hơn ở nhóm mổ song nhiều người bệnh cũng có nâng cao đáng kể nhờ chữa trị nội khoa. Sau 8 năm, khoảng 1/3 số bệnh nhân có chỉ định mổ đã chọn cách chữa trị không mổ và thấy bằng lòng với quyết định của mình. Đây là con số rất đáng kể và cho thấy tầm quan trọng của việc chia sẻ quyết định trong quá trình này.

Phẫu thuật đĩa cột sống lưng dưới là một trong những phẫu thuật phổ biến nhất ở Mỹ, dù rằng hàm lượng không giống nhau đáng kể giữa các vùng. Những nghiên cứu trước đây đã cho thấy phẫu thuật giúp giảm đau nhanh hơn và người bệnh khôi phục tốt hơn. Tuy nhiên, rất khó xác định hiệu quả thực quan của phẫu thuật – nhất là vì một số lớn người bệnh đổi từ không mổ sang mổ. Điều dẫn tới việc đánh giá thấp lợi ích thực tế của phẫu thuật.

Theo các tác giả nghiên cứu, kết quả theo dõi dài ngày từ SPORT cho thấy đối với người bệnh đã khẳng định bị thoát vị đĩa xương sống đốt sống lưng, giải phẫu ưu việt hơn điều trị nội khoa trong việc làm giảm biểu hiện và cải thiện chức năng. Lợi ích cao nhất đạt được trong vòng 6 tháng sau mổ và kéo dài suốt 8 năm.

Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân điều trị nội “cũng triệu chứng sự nâng cao rõ rệt qua thời kì”. Các nhà nghiên cứu nói thêm rằng những bệnh nhân chuyển sang chữa trị mổ không vui lòng với biểu hiện của mình nhiều hơn, hay cảm thấy triệu chứng nặng lên hơn, lúc đầu thường có chức năng thể lực kém hơn và mất khả năng lao động nhiều hơn.
Đó là kết luận rút ra từ một nghiên cứu theo dõi kéo dài 8 năm đăng trên tạp chí Spine số tháng 1/2014.

Theo Dân Trí

Biểu hiện phổ biến của bệnh thoát vị đĩa đệm

Việc phát hiện sớm bệnh thoát vị đĩa đệm duyệt những triệu chứng của căn bệnh và điều trị kịp thời giúp bệnh nhân đạt hiệu quả sớm nhất.

chua-thoat-vi-dia-dem-co

1.1. Lâm sàng.

– Tình cảnh phát bệnh: thường xuất hiện sau một chấn thương hay gắng sức của cột sống.

– Tiền sử: thường bị đau nhói lưng tái phát nhiều lần.

– Phát triển: bệnh thường mở mang theo 2 tuổi:

+ Tuổi đau cấp: Là tuổi đau ê ẩm vùng lưng cấp xuất hiện sau một chấn thương hay gắng công. Về sau mỗi khi có những gắng sức tương tự thì đau lại tái phát. Ở tuổi này có thể có những biến đổi của vòng sợi trồi ra sau, hoặc hết thảy đĩa đốt sống nhô ra sau mà vòng sợi không bị tổn thương.

+ Giai đoạn gây áp lực rễ: Đã có những triệu chứng của kích thích hay gây áp lực rễ tâm thần, xuất hiện các biểu hiện của hội chứng rễ: đau lan xuống chi dưới, đau tăng khi đứng, đi, nhảy mũi, rặn… Nằm nghỉ thì đỡ đau. Ở giai đoạn này vòng sợi đã bị đứt, một phần hay tất thảy nhân nhầy bị tụt ra phía sau (thoát vị sau hoặc sau bên), nhân nhầy dịch chuyển gây ra áp bức rễ. Bên cạnh đó, những đổi thay thứ phát của thoát vị đĩa đệm như: phù nề các mô xung quanh, ứ đọng tĩnh mạch, các quá trình dính… Làm cho triệu chứng bệnh tăng trưởng. Triệu chứng lâm sàng tiêu biểu với hai hội chứng: cột sống và rễ thần kinh.

– Các hình thức thoát vị đĩa đệm:

+ Thoát vị đĩa đệm thành một khối: do gấp mạnh đốt sống thắt lưng nên một phần nhiều hay cả khối nhân bị lồi xuyên qua dây chằng dọc sau. Về biểu hiện do áp bức rễ đột ngột nên sớm xuất hiện liệt cơ và rối loạn cơ vòng.

+ Thoát vị đĩa cột sống hai bên: phía sau của vòng sợi có thể bị hư ở cả hai bên làm các mảnh vỡ nhân nhầy trồi ra cả hai bên cùng một lúc hoặc hai lần khác nhau, do đó bệnh nhân có thể bị đau cả hai bên cách nhau hoặc cùng một lúc.

+ Thoát vị đĩa đốt sống nhiều nơi (đa tầng), những không nhất quyết phải ở các đĩa đốt sống kế bên, và cùng một bên.

+ Thoát vị đĩa đệm nhân nhầy bị kẹt: nhân nhầy lồi qua vòng sợi có thể bị kẹt giữa các mép thân đốt sống kề nhau gây cơn đau đột ngột ở vùng thắt lưng. Đau tăng khi hoạt động cột sống, có thể kèm theo đau dây thần kinh hông to nặng. Đau có thể biến mất đột ngột khi nhân nhầy hết bị kẹt.

1.2. Cận lâm sàng.

1.2.1. X quang thường (thẳng – nghiêng):  Tam chứng Barr:

– Gẫy góc cột sống lưng.

– Xẹp đĩa cột sống.

– Mất ưỡn cong sinh lý.

1.2.2. Chụp X quang bao rễ cản quang.

Sử dụng các thuốc cản quang có Iod, không ion hóa, không độc với tủy sống (như Amipaque, Lipamiro…) Bơm vào bao rễ tâm thần, rồi chụp phim thẳng, nghiêng và chếch 3/4 phải và trái.

Trên phim chụp bao rễ, ta thấy hình ảnh bao rễ bị chèn ép có thể cắt cụt một rễ hay tất thảy bao rễ. Thi thoảng chỉ thấy dấu hiệu “đồng hồ cát” hoặc các trường hợp chèn ép bao rễ nhẹ. Đồng thời chúng ta có thể biết được chuẩn xác vị trí đĩa xương sống thoát vị, và thể thoát vị ra sau hay sau bên.

1.2.3. Chụp cộng hưởng từ (MRI).

Chụp cộng hưởng từ (MRI): là xét nghiệm số 1 để đánh giá về cột sống kỳ lạ là trong chẩn đoán thoát vị đĩa cột sống, cho phép loại trừ các tổn thương bên trong tủy sống: trên ảnh MRI tổ chức có nhiều nước bị giảm tín hiệu trên ảnh T1 và tăng tín hiệu trên ảnh T2. Đĩa xương sống thông thường có ranh giới rõ, giảm tín hiệu trên T và tăng tín hiệu trên T2 do có nhiều nước. Các đĩa đệm thoái hóa do không có nước nên trên T2 tín hiệu không tăng so với các đĩa cột sống khác. Khối đĩa đốt sống thoát vị là phần đồng tín hiệu với đĩa đệm và nhô ra phía sau so với bờ sau thân đốt sống và không ngấm thuốc đối quang từ. Các ảnh cắt dọc giúp đánh giá tất cả cột sống, vị trí và số tầng thoát vị. Các ảnh cắt ngang cho thấy các kiểu thoát vị (trung tâm, cạnh trọng tâm và lỗ ghép). Kết hợp hình ảnh cắt dọc và ngăng đánh giá được chừng mực thoát vị áp chế vào tuỷ sống và rễ thần kinh, gây đè ép khoang dịch não tủy và phù tủy cùng mức. Các chi tiết về xương trên MRI cho hình ảnh không rõ lắm.

Thế nào là thoát vị đĩa xương sống, các loại phổ biến bệnh thoát vị đĩa đệm

Chắc hẳn ai trong mỗi chúng ta khi bị thoát vị đĩa đốt sống đều nhận thấy bệnh lý này thực sự khó chữa? Vậy cớ sao bệnh lý này khó chữa đến thế? Chúng ta cùng tìm hiểu về bệnh thoát vị đĩa xương sống.

chua-tri-thoat-vi-dia-dem

1. Thế nào là thoát vị đĩa cột sống

– Yếu tố dịch tễ học:

+ Về giới: nam nhiều hơn nữ, thường chiếm tới 82%.

+ Tuổi: thường xảy ra ở lứa tuổi lao động từ 20-49 chiếm tới trên 90%.

+ Vị trí hay gặp: thường xảy ra ở đĩa cột sống L4-L5 và L5-S1, do hai đĩa cột sống này là bản lề vận động chủ yếu của cột sống.

+ Nghề nghiệp: phần nhiều là những cá nhân cần lao bộ hạ nhọc nhằn.

– Yếu tố chấn thương: là căn nguyên hàng đầu. Trong đó chấn thương cấp tính, mạn tính và vi chấn thương đều là những căn nguyên gây ra thoát vị đĩa xương sống. Tuy nhiên chấn thương tạo ra thoát vị đĩa cột sống chỉ nảy sinh khi bệnh nhân bị căn bệnh hư xương sụn cột sống lưng hoặc thoái hóa đĩa đệm.

– Thoái hóa đĩa đệm: đĩa đệm có thể bị thoái hóa sinh lý (lão hóa) hay thứ phát đến một chừng mực nào đó sẽ không chịu đựng được một lực chấn thương nhẹ hay một ảnh hưởng của trọng tải nhẹ cũng có thể gây thoát vị đĩa cột sống.

– Những yếu tố gây nên thoát vị đĩa đệm:

+ Sức ép trọng tải cao.

+ Sức ép căng phồng của tổ chức đĩa đốt sống cao.

+ Sự lỏng lẻo trong từng phần với sự tan rã của tổ chức đĩa cột sống.

+ Lực đẩy, nén ép, xoắn vặn nhiều không kể xiết vào đĩa đệm cột sống.

Nhìn một cách tổng quát có thể bao quát, thoái hóa đĩa đệm là nguyên cớ cốt yếu, ảnh hưởng cơ học là nguyên cớ phát khởi và sự kết hợp của hai nhân tố đó là nguồn nảy sinh thoát vị đĩa cột sống.

Xem thêm: Những bài thuốc nam chữa bệnh thoát vị đĩa đệm

2. Phân loại thoát vị đĩa xương sống.

2.1. Phân loại theo sự ảnh hưởng với rễ thần kinh và tủy sống.

Rothman và Marvel đã chia thoát vị đĩa đốt sống ra sau thành 3 loại:

– Loại thoát vị trọng tâm chủ yếu áp chế tủy sống gây căn bệnh tủy.

– Loại thoát vị cạnh trọng điểm gây áp lực cả tủy và rễ thần kinh tạo ra bệnh lý tủy rễ.

– Loại thoát vị cạnh bên còn gọi là thoát vị lỗ ghép cốt yếu đè nén rễ thần kinh tạo lên bệnh lý rễ.

Cách phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong lâm sàng.

2.2. Phân loại theo liên quan với dây chằng dọc sau.

Wegeber chia các thoát vị đĩa xương sống thành 2 loại:

– Thoát vị nằm trước dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau còn nguyên vẹn chưa bị rách.

– Thoát vị qua dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau bị rách, khối thoát vị chui qua chỗ rách vào trong ống sống.

Wood chia thoát vị đĩa cột sống làm 4 loại dựa trên sự tương quan giữa khối thoát vị với vòng sợi, và dây chằng dọc sau:

– Loại 1: phồng đĩa cột sống (normal bulge), vòng sợi chưa bị rách hết, nhân nhày vẫn còn nằm trong vòng sợi nhưng lệch vị trí.

– Loại 2: lồi đĩa đốt sống hay dạng tiền thoát vị (protrusion), khối thoát vị đã xé rách vòng sợi nằm ở trước dây chằng dọc sau.

– Loại 3: thoát vị thực quan (extrusion), khối thoát vị đã chui qua dây chằng dọc sau, nhưng còn dính liền với phần nhân nhày nằm phía trước.

– Loại 4: thoát vị đĩa cột sống có mảnh rời (sequestration), là có một phần khối thoát vị tách rời khỏi phần đĩa xương sống nằm trước dây chằng dọc sau, có thể di cư đến mặt sau thân đốt sống. Mảnh rời này thường nằm ngoài màng cứng, nhưng có những lúc xuyên qua màng cứng gây chèn ép tủy.

Cách phân loại này liên quan chặt chịa đến chỉ định và thành quả điều trị. Vì hàm lượng bệnh nhân có phồng và lồi đĩa cột sống tuy rất cao nhưng không nhất quyết phải điều trị phẫu thuật. Ngược lại, thành quả giải phẫu lại đạt cao nhất ở nhóm thoát vị có mảnh rời và tiếp đến là thoát vị đĩa cột sống thực tại.

Ngoài ra còn có kiểu phân loại thoát vị theo vị trí: ra sau, ra trước, vào thân đốt (thoát vị Schmol).

Tìm hiểu điều trị bệnh vôi hóa cột sống

Tôi đã đau lưng cách nay gần 3 năm. Khi đi khám tại Bệnh viện Hoà Hảo, bác sĩ bảo tôi bị vôi hoá cột sống (L3,L4,L5). Hiện tại tôi chỉ luyện tập( đi bộ và bơi) nhưng bệnh vẫn không giảm. Khuyến nghị cho tôi biết cách điều trị. (Nguyễn Tấn Lực)

voi-hoa-cot-song-co

Đáp của phòng mạch online:

– Từ thoái hóa đốt sống được sử dụng như là từ thoái hóa xương cột sống hay cột sống có gai, để chỉ sự lắng tụ canxi trên các dây chằng bám vào thân đốt sống hay các mấu gai, mấu ngang của cột sống.

Đây là quá trình tự nhiên lão hóa khi thời gian trôi qua, có thể kèm theo các nhân tố thúc đẩy như quá trình viêm do viêm nhiễm trùng, viêm do các nguyên tố khác như bệnh tự miễn hay viêm do các cơ và dây chằng vùng cột sống bị quá tải do việc nặng hay do phong độ.

Chúng tôi không rõ từ không giảm của anh sử dụng là như vậy nào. Uống thuốc không có tác dụng? Uống thuốc thì giảm đau nhưng ngưng thuốc thì bị đau lại? Cơn đau ê ẩm vùng lưng có kèm theo các triệu chứng khác như đau vùng thắt lưng lan xuống hai chân, có kèm theo tê hay không? Khi anh đi bộ cảm thấy đau vùng bắp chuối và phải ngồi nghỉ mới bớt hay không? Sau khi đi bơi về có đỡ đau nhức ở lưng không? Đi bộ có làm tăng cơn đau không?

Đau ê ẩm vùng lưng có thể chỉ thuần tuý được gây ra bởi các tổn thương cơ và dây chằng vùng cột sống hay có thể là do căn bệnh của đĩa đệm, hay nặng thêm có thể được gây ra bởi sự áp bức các rễ thần kinh do tình trạng thoái hóa và thoát vị đĩa đốt sống làm hẹp các lỗ chui ra của dây tâm thần…

Anh đang tập đi bộ và bơi là tốt rồi, nên duy trì chế độ này. Điều trị cơn đau ê ẩm vùng lưng là sự kết hợp của nhiều chuyên khoa như chỉnh hình, vật lý trị liệu, khoa giảm đau và với những cơn đau mạn tính kéo dài quá lâu như anh thi thoảng cần được tham mưu về tâm lý.

Cách thức nội khoa có nghĩa là uống thuốc và phối hợp với các chuyên khoa như trên luôn là cách thức được chọn lựa trước nhất. Thế nhưng để có một cách thức chữa trị đúng đắn thì phải có chẩn đoán chính xác. Điều này thì rất tiếc là chúng tôi không thể chẩn đoán bệnh chuẩn xác qua thư được mà cần phải khám bệnh nhân, kèm theo các dụng cụ chẩn đoán cận lâm sàng như điện cơ, MRI… Anh có thể đi khám tại các bệnh viện có chuyên khoa chấn thương chỉnh hình, nội tâm thần hay ngoại thần kinh ở gần nơi anh sống để có chẩn đoán chính xác và cách thức chữa trị tối ưu.

BS TĂNG HÀ NAM ANH – giảng sư CTCH ĐH Y dược TP.HCM

Nguyên nhân và triệu chứng về bệnh vôi hóa cột sống

Vôi hóa cột sống cổ hay thoái hóa vùng cột sống cổ là quá trình bệnh lý ở các đốt sống cổ, thời điểm ban đầu chỉ là hư khớp ở các diện thân đốt, đĩa liên đốt tới các màng, dây chằng, dần dần về sau xuất hiện hiện tượng thoái hóa các đốt sống, gây đau vùng cổ, nhất là khi hoạt động vùng cổ.

Căn nguyên và biểu hiện của bệnh vôi hóa đốt sống cổ:

voi hoa dot song co

Lý do:

Làm việc máy tính nhiều, ít hoạt động thể chất là một trong những lý do tạo lên vôi hóa vùng cột sống cổ, vôi hóa cột sống. Đây cũng là bệnh thường gặp nhất đối với dân văn phòng.

Căn do là do:

– Vị trí đặt tay trên bàn làm việc hay đối với máy tính quá cao hoặc quá thấp. Quá mệt mỏi. Vùng cổ và vùng gáy không được đều đặn hoạt động, hoặc chỉ giữ nguyên một phong thái.

– Làm việc kéo dài, thiếu vận động.

– Trong khi ngủ chỉ nằm 1 – 2 tư thế, không có lề thói chuyển mình.

[Vôi hóa cột sống cổ]

Triệu chứng:

– Các động tác cổ bị vướng và đau; có thể thỉnh thoảng bị vẹo cổ.

– Cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai, cổ, ảnh hưởng tới phong thái đầu cổ, đau lan lên đầu, có thể nhức đầu ở vùng chẩm, vùng trán, đau từ gáy lan xuống bả vai, cánh tay ở một bên hay ở cả hai bên.

– Khám chỉ thấy các hoạt động ở cổ bị hạn chế (nặng); có thể cảm giác cứng gáy, có điểm đau khi ấn vào các gai cột sống và các mỏm ngang của vùng cột sống cổ, chụp X-quang vùng cột sống cổ thấy mất đường cong sinh lý, hẹp đĩa liên đốt, biến dạng ở thân đốt, có các gai cột sống.

– Với chứng thoái hóa đốt sống cổ ở cao (đoạn C1- C2 – C4), bệnh nhân còn có triệu chứng nấc, ngáp, chóng mặt.

Để đề phòng hiện tượng “gãy”, trật khớp mỏm nha gây liệt tứ chi hoặc tử vong, bệnh nhân tuyệt đối không được “vặn”, “ấn cổ”, không nên nằm gối đầu quá cao.

Thoái hóa cột sống cổ gây tổn thương vào lỗ tiếp hợp, có thể gây rối loạn tuần hoàn não. Người bệnh cần được thăm khám lâm sàng thần kinh kết hợp với thăm dò siêu thanh để xử trí thoái hóa cột sống cổ kịp thời.

Phương pháp luyện tập giúp phòng và giới hạn vôi hóa cột sống cổ:

Bài 1: hoạt động đầu và phát động cổ. Đầu tiên ngẩng đầu, cúi đầu rồi quay về vị trí cũ. Tiếp theo nhìn sang trái, sang phải, nhìn nghiêng xuống dưới, lên trên. Mỗi động tác này chia làm 4 lần hô 1-2-3-4 và làm liên tiếp trong 4 lần. Tất cả động tác phát động mất 5 phút. Khi khởi động xong bắt đầu tập.

Bài 2: tụ tập cho cổ có công dụng. Trước tiên xoay vùng cột sống cổ, sau đó luồn tay lên nắm lấy cổ, đưa đầu cong lên hết cỡ. Sau đó là động tác chèo thuyền để cử động tất thảy xương sống.

Bài 3: các động tác tập mạnh hơn: Động tác này thanh niên làm thì tốt hơn. Người nhiều tuổi cao và người già không làm  được vì ở tuổi này không còn bền bỉ nữa.

Bài 4: tập theo động tác múa trong kinh kịch. Khi tập phong độ này, cả người nằm dưới đất, vặn cho xương sống thành hình chữ  S vì phải để cho xương sống cổ và lưng hoàn toàn giãn ra, khác thường ở phần lưng và cổ. Khi tập đầu hướng xuống, mặt quay lên rất tốt cho cột sống cổ. Bài tập này là cách thức che chở chủ yếu phần cột sống cổ.

Với những động tác tập luyện cổ như trên, nếu thường xuyên tập luyện kiên cố các bạn sẽ đẩy lùi được bệnh lý vôi hóa vùng cột sống cổ.

Bài viết tham khảo:

=> Tham khảo nguyên nhân thoái hóa đốt sống cổ

Tổng hợp biến chứng thường gặp của vôi hóa cột sống cổ

Tôi bị thoái hóa vùng cột sống cổ đã nhiều năm. Trước đây tôi không thấy có biểu hiện gì đáng báo động nhưng gần đây tôi thấy liên tục bị đau đầu, chóng mặt. Xin hỏi hiện tượng đó có phải do thoái hóa vùng cột sống cổ không? thoái hóa cột sống cổ có thể tạo ra biến chứng gì?(Nguyễn Văn Hải – Lạng Sơn)

benh-voi-hoa-cot-song-lung

Thoái hóa khớp là thương tổn thoái hóa của sụn khớp, đặc trưng bởi quá trình mất sụn khớp và hình thành tổ chức xương tân tạo cạnh khớp. Với thoái hóa cột sống nhìn một cách tổng quát và cột sống cổ nói riêng, quá trình lão hóa xảy ra ở đĩa xương sống và tổ chức xương đốt sống. Đây là một bệnh khớp thường gặp nhất ở người có tuổi gây đau và giới hạn vận động.

Chẩn đoán thoái hóa cột sống cổ: bệnh nhân đau mỏi kiểu cơ học, đau tăng khi cử động, giảm khi ngơi nghỉ; hạn chế cử động cột sống cổ: khó cúi, ngửa, nghiêng, quay cổ; kèm tiếng lắc rắc khi vận động cột sống. Thoái hóa cột sống cổ có thể không có biểu hiện mà chỉ có hình ảnh trên Xquang. Chụp Xquang thấy có hình ảnh tam chứng của thoái hóa: hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn và mọc gai cột sống (mỏ xương).

Các biến chứng có thể gặp của bệnh bao gồm các biểu hiện chèn ép thần kinh gây đau dọc từ cổ xuống vai và cánh tay một hoặc cả hai bên; áp bức các động mạch đốt sống gây đau đầu, chóng mặt; thảng hoặc có đè nén tủy, triệu chứng bằng yếu, đau tứ chi, đi lại khó khăn hoặc liệt không vận động được.

Trường hợp của bác, nhức đầu chóng mặt có thể do thoái hóa gây gây áp lực động mạch đốt sống. Thế nhưng cần nhớ rằng ở người cao tuổi có thể mắc các bệnh khác dẫn đến đau đầu chóng mặt như tăng máu áp hoặc hạ máu áp, xơ vữa mạch máu, rối loạn mỡ huyết, rối loạn tiền mãn kinh (ở nữ giới), hoặc tai biến mạch não hay u não… Chính thành thử bác nên đến các cơ sở y tế để khám toàn diện, chẩn đoán và chữa trị đúng bệnh.

Bài thuốc nam hay điều trị bệnh thoái hóa cột sống cổ

Theo y học cổ truyền, bệnh thoái hóa vùng cột sống cổ là do phong hàn thấp bên ngoài xâm nhập vào khiến cho huyết khí trong kinh lạc bị bế tắc tạo ra đau, vận động khó khăn.

bai thuoc nam chua thoai hoa

Theo danh y Như Tá, bệnh này gặp nhiều ở những cá nhân thân thể suy nhược, lớn tuổi; do hư yếu của tuổi già – càng cao tuổi, xương và các đốt ít được nuôi dưỡng hơn gây nên đau, khó cử động; do chấn thương làm ảnh hưởng đến gân cơ và khớp vùng cổ gáy… Các căn nguyên trên, nếu không được chữa trị sẽ làm cho khí huyết bị ngưng trệ gây nên bệnh.

Bài thuốc nam hay cho các thể bệnh

Biểu lộ và bài thuốc, theo lương y Như Tá là tùy từng thể bệnh, nguyên nhân. Nếu do phong hàn thì đầu, gáy, vai và lưng đau, gáy cứng, có nhiều điểm đau ở cổ, cảm thấy như nhịp đập ở cổ, cử động hóc búa, thủ túc tê, đau, mỏi, chi trên cảm thấy nặng, không có sức, thích ấm, sợ lạnh. Điều trị trong trường này có thể dùng bài gồm các vị: tam thất |3 gr, cam thảo 6 gr, cát căn 15 gr, quế chi, bạch thược, đương quy, xuyên khung, thương truật, mộc qua (mỗi vị đều 9 gr), sinh khương 3 lát, táo 3 trái.

Với thể can thận âm hư, biểu hiện phát biểu là gáy, vai, lưng đau, đôi khi đau lan lên đầu, bộ hạ tê, mất cảm giác, dây lưng đau, đầu gối mỏi, chóng mặt, hoa mắt, gò má hay đỏ, ra mồ hôi trộm, họng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng. Chữa trị trong trường hợp này có thể sử dụng bài gồm các vị: ngưu tất, thục địa, đan sâm (mỗi vị đều 12 gr), đương quy, bạch thược, tỏa dương, tri mẫu, hoàng bá, quy bản, thỏ ty tử, kê máu đằng (mỗi loại đều 9 gr).

Với thể đờm thấp ngăn chặn kinh mạch thì trình bày là, đầu, gáy, vai, vai lưng đau; váng đầu, chóng mặt, đầu nặng, cơ thể nặng, không có sức, nôn ói, ngực và hông sườn đầy tức, lưỡi trắng nhạt. Chữa trị với thể này sử dụng bài gồm các vị: tam thất 3 gr, đởm nam tinh, bán hạ, bạch giới tử, ngũ vị tử (mỗi loại đều 10 gr), cát cánh 6 gr, phục linh, trần bì, địa long (mỗi loại đều 12 gr).

Với thể khí huyết đều hư, máu ứ – triệu chứng phổ biến là, đầu, gáy khó hoạt động, gáy yếu, bộ hạ yếu, nhất là ở các đầu ngón tay, vai và tay tê, suy nhược cơ thể, mất ngủ, hay mơ, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, chóng mặt, tim hồi hộp, hơi thở ngắn, da mặt xanh, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng. Điều trị trong trường hợp này có thể sử dụng bài gồm các vị: hoàng kỳ 18 gr, kê huyết đằng 15 gr, xích thược, bạch thược (mỗi loại đều 12 gr), quế chi, cát căn (mỗi loại đều 9 gr), sinh khương 6 gr, táo 4 trái.

Cách sắc (nấu) các bài thuốc như sau: cho các vị thuốc vào nồi đất cùng 4 chén nước, nấu còn lại 1 chén, cho nước ra, đấu cho 3 chén nước vào, nấu còn lại nửa chén. Hòa lại nước lại, chia làm 3 lần dùng trong ngày, sử dụng lúc còn âm ấm.