Bệnh trĩ – căn do và cách phòng tránh

May mắn là có các thuốc và thủ thuật hiệu quả để điều trị bệnh trĩ. Trong nhiều trường hợp, bệnh có thể chỉ cần tự điều trị và thay đổi lối sống.

Dấu hiệu và biểu hiện: thường lệ thuộc vào vị trí búi trĩ.

benh tri

Trĩ nội. Bạn chẳng thể nhìn hoặc sờ thấy trĩ nội. Nhưng đau hoặc kích ứng khi đại tiện có thể gây tổn thương bề mặt mỏng manh của búi trĩ và chảy máu. Bạn có thể thấy một chút huyết tươi trên giấy vệ sinh hoặc trong bồn cầu. Vì niêm mạc phía trong thiếu các sợi thần kinh cảm giác đau, loại trĩ này thường không gây khó chịu. Tuy thế, bạn có thể có giảm giác đầy trực tràng sau khi ỉa. Đôi khi, sự biến dạng có thể đẩy trĩ nội qua lỗ hậu môn. Nếu trĩ vẫn bị sa xuống, nó có thể gây đau không dứt, giai giẳng. Khi bị kích thích, nó có thể ngứa hoặc chảy máu.

Trĩ ngoại. Loại trĩ này thường gây đau. Thỉnh thoảng có thể chảy huyết nhiều trong trĩ ngoại và tạo thành cục huyết đông (huyết khối), gây đau gay gắt và viêm. Khi bị kích thích, trĩ ngoại có thể ngứa hoặc chảy máu.

Căn do

Bệnh trĩ có thể do tăng áp lực tĩnh mạch phần dưới trực tràng. Nguồn gây sức ép phổ quát bao gồm:

– Táo bón và kèm theo biến dạng bên ngoài

– Ỉa chảy và đột ngột ỉa phân lỏng

– Ngồi hoặc đứng trong thời kì dài

– Béo phì

– Mang vác nặng

– Mang thai và sinh con

Chữa trị:

Ở phần lớn các trường hợp, điều trị trĩ gồm các bước bạn có thể tự làm. Nhưng có những lúc cần sử dụng thuốc hoặc phẫu thuật.

Thuốc:

Nếu bệnh trĩ chỉ gây khó chịu nhẹ, bác sĩ có thể cho dùng kem, mỡ hoặc đệm không cần đơn chứa cây phỉ hoặc thuốc chống viêm tại chỗ chứa hydrocortison. Liệu pháp tại chỗ này, kết hợp với tắm nước ấm hằng ngày, có thể làm giảm biểu hiện.

Phẫu thuật hoặc các thủ thuật khác:

Nếu huyết khối hình thành trong trĩ ngoại, bác sĩ có thể dễ dàng cắt bỏ huyết khối bằng một đường rạch nhỏ, sẽ giảm đau mau chóng.

Đối với trĩ gây đau hoặc kéo dài, thầy thuốc có thể khuyên:

– Thắt búi trĩ. Thủ thuật đơn sơ, ít đau này được thực hiện ở phòng khám, bệnh viện và có hiệu quả với phần lớn mọi người.

– Liệu pháp xơ hóa. Tiêm một dung dịch hóa chất quanh máu mạch để co nhỏ búi trĩ.

– Chiếu tia hồng ngoại. Chiếu tia hồng ngoại 1-2 giây cũng có thể làm ngừng tuần hoàn tới trĩ ngoại. Bạn có thể thấy nóng khi làm thủ thuật và xuất huyết nhẹ trong vài ngày.

– Liệu pháp laser. Trong thủ thuật này, một chùm laser làm bay hơi mô búi trĩ.

– Đông lạnh. Thủ thuật này làm lạnh mô tổn thương, ngừng tuần hoàn và phá hủy mô búi trĩ.

– Dòng điện. Dùng dòng điện làm co búi trĩ trong thủ thuật giống nhau như quang đông hồng ngoại.

– Giải phẫu. Nếu các thủ thuật khác không thành công hoặc nếu bạn có búi trĩ lớn, thầy thuốc có thể cắt bỏ mô bằng thủ thuật cắt trĩ. Vùng mô cắt bỏ rộng hơn, ít có năng khiếu tái phát nhưng khó chịu nhiều hơn. Giải phẫu cần nằm viện 1-2 ngày – thời gian khôi phục dài hơn các phương pháp cắt bỏ trĩ khác.

Ngừa:

– Ăn thực phẩm nhiều chất xơ. Ăn nhiều hoa quả, rau và ngũ cốc. Điều này sẽ làm phân mềm hơn và ỉa dễ hơn, giúp giảm đè nén có thể gây trĩ.

– Uống nhiều nước.

– Thử dùng chế phẩm bổ sung chất xơ. Nếu bạn dùng chế phẩm bổ sung chất xơ, phải bảo đảm uống chí ít 8-10 cốc nước hoặc dịch khác mỗi ngày. Mặt khác, chế phẩm bổ sung chất xơ có thể gây táo bón hoặc khiến cho táo bón xấu thêm. Từ từ thêm chất xơ vào chế độ ăn để tránh sinh hơi.

– Tập luyện. Luyện tập làm giảm lực ép lên tĩnh mạch, có thể xuất hiện khi đứng hoặc ngồi lâu, và giúp ngăn ngừa táo bón. Tập luyện cũng có thể giúp giảm lượng cân thừa.

– Tránh đứng hoặc ngồi lâu.

– Không nên bít tất tay. Găng và nín thở khi ỉa làm tăng lực ép lên tĩnh mạch ở đầu cuối trực tràng.

– Đại tiện ngay khi cảm thấy muốn đại tiện.

Tự chăm nom:

Bạn có thể tạm thời giảm đau nhẹ, sưng và viêm ở đa số các đợt trĩ bằng các cách tự trông nom dưới đây:

– Bôi kem chữa trị trĩ không cần đơn hoặc viên đạn chứa hydrocortison, hoặc dùng băng ép chứa cây phỉ hoặc thuốc tê tại chỗ.

– Giữ vùng lỗ đít luôn sạch. Tốt nhất là hằng ngày rửa hoặc tắm nhẹ nhõm để làm sạch da quanh lỗ đít bằng nước ấm. Xà bông là không cấp thiết và có thể là nguyên nhân gây ra bệnh nặng hơn.

– Ngâm trong nước ấm vài lần mỗi ngày.

– Chườm đá hoặc đắp gạc lạnh lên lỗ đít trong 10 phút tới 4 lần/ngày.

– Nếu trĩ bị sa xuống, đẩy nhẹ nhàng búi trĩ vào trong ống lỗ đít.

– Sử dụng khăn ẩm hoặc giấy vệ sinh ướt sau khi ỉa thay cho giấy vệ sinh khô.

Những cách tự chăm sóc này có thể làm giảm biểu hiện, nhưng chúng không là nguyên nhân gây ra búi trĩ mất đi. Hãy đi khám bệnh nếu bạn không thấy giảm bệnh trong vài ngày.

Chữa trị bệnh trĩ ngoại thực sự hiệu quả

Bệnh trĩ ngoại đa phần là do phải rặn nhiều khi đại tiện, đại tiện phân khô,… gây nứt các tĩnh mạch viền hậu môn, máu thấm vào trong mô liên kết, gây tụ máu, phát bệnh đột ngột dẫn tới đau dữ dội.

benh tri ngoai
Trĩ ngoại là do chùm tĩnh mạch ngoài bị giãn , gấp khúc tạo nên. Nó nằm phía dưới vùng lược, có thể nhìn thấy, không thể đưa và trong hậu môn, thường không chảy máu. Trĩ ngoại thường xuất hiện ở các phụ nữ sau khi sinh vì khi sinh con do khoang bụng trống rỗng, không có nhu cầu đi đại tiện, không đi đại tiện trong nhiều ngày, nằm trên giường lâu, đại tiện khó khăn dễ dẫn tới mắc trĩ ngoại

Các hình thái của trĩ ngoại

  1.  Trĩ ngoại do tắc mạch máu:Là do tĩnh mạch trên trĩ bị tắc hay vỡ gây chảy máu, mạch máu đầy những cục máu, ở phía dưới da phần cửa hậu môn hình thành những cục trĩ nhỏ hình ôvan, tự  cảm thấy đau tức.
  2.  Trĩ ngoại do tĩnh mạch bị phình gập:Là do dưới da tĩnh mạch bị gấp khúc, ở phần rìa cửa hậu môn hình thành những viền bướu hình tròn, hình bầu dục, hay hình dài. Nếu có phù thũng, hình trạng sẽ lớn hơn, trong búi trĩ có cả chỗ tắc máu và tổ chức kết đế.
  3.  Trĩ ngoại do chứng viêm:Là do những nếp gấp ở cửa hậu môn bị viêm , phù thũng gây nên. Thường cửa hậu môn bị tổn thương, do lây nhiễm vi khuẩn gây nên.
  4.  Trĩ ngoại do tổ chức kết đế:Do rãnh nhăn ở phần rìa cửa hậu môn phình to, các mô kết đế bị tăng sinh, trong đó mạch máu lại rất ít, do những mảnh da dài ra, gọi là trĩ ngoại do da. Ở vùng rìa hậu môn có thể thấy những mảnh da đơn phát hoặc vòng trong sa xuống và lòi ra, trĩ hình vòng có thể dạng mào hoa, gọi là trĩ ngoại dạng da thừa hay còn gọi là Trĩ tiêu binh.

Tác hại của trị ngoại

Trĩ ngoại không lây nhiễm.  Tuy nhiên búi trĩ sau khi bị cọ sát hay bị viêm sẽ chảy máu, chảy máu lâu ngày sẽ dẫn tới thiếu máu hoặc bị tắc hậu môn do các búi trĩ luôn ở bên ngoài. Do đi đại tiện khó khăn, thường xuyên nhịn đi vệ sinh, dẫn tới mắc các bệnh về gan, thận, nứt kẽ hậu môn, viêm đại tràng… Nữ giới dễ bị mắc các bệnh phụ khoa, u xơ đường ruột…

Cách phòng ngừa trĩ ngoại

  1.  Đi đại tiện đúng giờ: hình thành thói quen đại tiện đúng giờ, tích cực phòng ngừa táo bón, giữ vệ sinh hậu môn sạch sẽ. Đồng thời, phải phòng ngừa các chứng bệnh hậu môn trực tràng như: nứt kẽ hậu môn,trĩ nội…
  2.  Uống nhiều nước: sáng dậy uống 1 cốc nước ấm, thúc đẩy nhu động ruột, nếu như đi đại tiện thấy khô rát, hoặc cũng có thể sử dụng các loại thuốc nhuận tràng theo sự chỉ định của bác sĩ.
  3.  Ăn uống hợp lý: ăn những thức ăn dễ tiêu, không uống rượu, hút thuốc, không ăn đồ cay nóng, đồ rán, thức ăn khó tiêu hóa… Ăn nhiều hoa quả, rau xanh và đồ ăn có chứa nhiều chất xơ.
  4.  Tăng cường vận động: Người mắc bệnh trĩ ngoại cần tăng cường tham gia các hoạt động thể dục thể thao như: chạy bộ, tập thể dục, chơi các môn thể thao… giúp tăng cường khả năng miễn dịch, thúc đẩy nhu động đường tiêu hóa, ngăn ngừa hiệu quả táo bón.

Điều trị bệnh trĩ ngoại

Trĩ ngoại khi mới bị thường có thể tự khỏi bằng các cách như đi đại tiện đúng giờ, vận động và ăn uống hợp lý. Để chắc ăn hơn bạn có thể sử dụng thêm các thuốc hỗ trợ điều trị. Trong trường hợp xấu nhất mới phải đi phẫu thuật tại các phòng khám chuyên khoa.

Những triệu chứng hay gặp của bệnh hiếm muộn vô sinh ở đàn ông

Bệnh vô sinh, hiếm muộn là bệnh lý khá thường gặp trong từng lớp hiện nay, nó có thể xảy đến với cả nam và nữ với những biểu hiện hết sức trái ngược; nhưng bài viết bữa nay chỉ nói đến những triệu chứng vô sinh ở nam giới.

bieu hien vo sinh nam

Biểu hiện ở bộ phận sinh dục: cũng giống như chị em phụ nữ, triệu chứng trước hết của chứng bệnh vô sinh là ở bộ phận sinh dụcmà tiêu biểu là tinh trùng bên trong và dương vật bên ngoài. Những dấu hiệu ấy có thể trực tiếp báo hiệu chứng bệnh này hoặc dẫn tới nhiều bệnh khác gây nên hiếm muộn – hiếm muộn ở nam giới.

Tinh trùng: – tinh khí có lẫn máu hoặc đau khi xuất tinh: năng lực bị viêm tiền liệt tuyến, viêm hay nhiễm khuẩn túi tinh.

– Không có tinh trùng, tinh trùng quá ít, tinh trùng di động yếu, tinh trùng bị quái gở.

Lượng tinh khí bình thường là 2-6ml, hơn 7ml là quá mức, không chỉ khiến cho mật độ tinh trùng giảm thấp mà còn dễ “trôi” ra ngoài, là nguyên nhân gây ra tổng số lượng tinh trùng thấp đi đi khi tiếp cận trứng. Nếu tổng số tinh khí ít hơn 2ml thì được xem là tinh khí ít. Tinh khí dưới 1ml thì được xem là quá ít, rất dễ dẫn đến hiếm muộn. Thông thường sau khi xuất tinh, khoảng 15 – 30 phút sau sẽ biến thành chất lỏng, nếu vượt quá 30 phút vẫn không thay đổi hình dạng, trên lâm sàng gọi là tinh dịch không dịch hóa, cũng là căn do dẫn tới hiếm muộn.

– Do nguyên tố di truyền làm suy nhược khả năng sinh sản tinh lực như hội chứng down.

Dương vật:

– Đau nhiều ở dịch hoàn mà không do chấn thương: có thể do viêm mào tinh hoàn thể nặng hoặc xoắn dịch hoàn, khiến bộ phận này không có huyết đến nuôi dưỡng.

– Đau nhẹ quanh dịch hoàn: dễ mắc viêm mào dịch hoàn thể nhẹ.

– Một tinh hoàn có cục nhỏ, rắn, không đau: nên phòng ngừa ung thư dịch hoàn hoặc một tổn thương lành tính ở đường dẫn tinh.

– Bìu sưng to và mềm ở một hay cả hai bên: có thể do giãn tĩnh mạch ở bìu.

– Bìu to tròn, căng như quả bong, có nước ở tinh mạc: nếu có một nang nhỏ thì có thể là do viêm mào tinh hoàn.

– Sưng to nhưng mềm ở phía trên tinh hoàn và càng to hơn khi cử động, khi nâng vác vật nặng hay khi ho: có thể là thoát vị bẹn, do có một quai ruột chui vào bìu.

– Dịch hoàn xoắn (là trường hợp mà máu cung cấp cho tinh hoàn bị chặn lại) hay dịch hoàn không nằm đúng vị trí (đây là trường hợp mà tinh hoàn không nằm trong bìu).

Ngoài ra còn do:

– Bị bất lực, suy tuyến sinh dục nam (là trường hợp mà dịch hoàn không phát triển thường nhật), xuất tinh sớm hay xuất tinh ngược dòng (tinh lực không được phóng ra ngoài, mà chảy ngược vào bọng đái, sau đó được đi tiểu ra ngoài).

– Khi giao phối cảm thấy đau: xuất phát từ nhiều nguyên nhân như dị ứng với dụng cụ tránh thai (thuốc diệt tinh trùng, màng ngăn…), Viêm tuyến tiền liệt, nhiễm khuẩn hay âm đạo khô.

– Lý do tâm lý có thể gây nên các vấn đề về cương dương và xuất tinh.

Tất cả những nhân tố đều có thể biến thành nguy cơ khiến bạn mắc chứng vô sinh – vô sinh.

Biểu hiện ở những bộ phận khác trên thân:

– Liên tục rụng tóc, béo bụng và vùng quanh bụng lên cân nhanh

– Da khô và nhăn nheo.

– Suy giảm sinh lực ở các mức độ riêng biệt (nhất là thiếu ham muốn và sức sống trong “chuyện ấy”).

– Stress nguy hiểm, ý thức khủng hoảng hay luôn có cảm giác lo phiền không yên.

– Gặp các vấn đề về cương cứng của dương vật.

– Ra nhiều mồ hôi và xuất hiện nhiều nốt đỏ nóng ran.

– Chuyển động thiếu linh hoạt…

Vả lại còn một số căn nguyên khác nữa cũng báo hiệu cho bạn biết chứng hiếm muộn, hiếm muộn như:  bệnh gan, bệnh thận, thiếu tế bào máu hình lưỡi liềm, các bệnh ở cơ quan sinh dục (như giang mai, lậu, sùi mào gà hay mụn dộp…), nhiễm khuẩn ở cơ quan sản xuất như viêm tuyến tiền liệt hay viêm mào tinh hoàn, các bệnh lây nhiễm, bệnh quai bị, bệnh do ảnh hưởng của môi trường và tình cảnh sinh sống…

Những nguyên do gây ra bệnh hiếm muộn nữ

Bệnh vô sinh nữ là căn bệnh thường gặp phổ biến trong xã hội ngày nay. Nhìn chung, bệnh hiếm muộn ảnh hưởng đến khoảng 10% đến 15% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản. Người ta ước tính rằng các vấn đề của phụ nữ có ảnh hưởng đến một phần ba số trường hợp vô sinh, các vấn đề của hiếm muộn nam cũng chiếm một phần ba, và một phần ba còn lại là do sự phối hợp của cả đàn ông và nữ giới.

hiem muon vo sinh nu

Có khá nhiều nguyên nhân tạo lên hiếm muộn nữ và có thể được phân thành 3 loại chính: yếu tố bẩm sinh (di truyền), các nhân tố bị mắc phải trong quá trình sống và nhân tố tâm lý. Các lý do cụ thể hơn được trình bày sau đây:

Gen di truyền: Các nhà nghiên cứu đã xác định được khoảng 350 gen kiểm soát năng lực sản xuất ở nữ. Chỉ một gen bị mất hoặc bị lỗi có thể tạo lên hiếm muộn. Thí dụ, có một loại gen giả như mặt hạn chế sẽ ngăn cản không cho buồng trứng phát triển, vì thế trứng chẳng thể được sản sinh. Nhiều nữ giới có gen bị thiếu bẩm sinh có thể nhận được lợi ích từ thụ tinh trong ống thử, một thủ thuật trong đó tinh trùng và trứng được đều được tham gia trong một phòng thể nghiệm. Trứng đã thụ tinh sau đó được cấy vào tử cung (dạ con).

Mất cân bằng hóoc-môn: Sự mất cân bằng của hóoc-môn giới tính nữ có thể ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt, sự rụng trứng và sự phát triển của trứng. Ví dụ, nồng độ cao các kích thích tố nam trong thân thể phụ nữ khiến cho trứng tạo thành các u nang nhỏ và ở lại trong buồng trứng thay vì chín và đi vào ống dẫn trứng hoặc tử cung. Các dạng thuốc sản xuất khác nhau và tiêm hóc-môn đã giúp trong các trường hợp vô sinh này ở phụ nữ.

Các cơ quan sản xuất bị tổn hại: Sự khác thường trong các cơ quan của hệ thống sinh sản nữ, buồng trứng, ống dẫn trứng, cổ tử cung, âm đạo và tử cung, có thể là bẩm sinh hoặc bị mắc phải. Sự rối loạn chức năng của bất cứ cơ quan nào trong những cơ quan này có thể ngăn ngừa mang thai.

Hiếm muộn nữ do dị tật bẩm sinh: Bao gồm một cơ quan sinh sản bị thiếu, một cơ quan bị biến dạng hoặc thậm chí có thêm một cơ quan.

Hệ thống sinh sản bị tổn hại cũng có thể được gây ra bởi bệnh tật, chấn thương, phẫu thuật, và không rõ căn do. Dưới đây là một vài nguyên nhân và các dạng tổn hại:

Bệnh viêm vùng chậu: Là một sự nhiễm khuẩn của tử cung, ống dẫn trứng và các mô bao quanh và trong buồng trứng. Đây là một biến chứng nghiêm trọng của một vài căn bệnh lây nhiễm qua đường tình dục có thể làm hỏng vĩnh viễn các cơ quan sản xuất.

Thống nhất ống dẫn trứng: Xảy ra do tình trạng viêm, có thai ngoài tử cung hoặc do giải phẫu. Với tình trạng này, các ống dẫn trứng dính lại với nhau, ngăn chặn việc di chuyển trứng đã thụ tinh vào tử cung.

Lạc nội mạc tử cung: Là một tình trạng mà trong đó nội mạc bên trong tử cung phát triển không ở nơi thường ngày của nó. Mô được đặt không đúng chỗ này có thể nằm trên buồng trứng, tử cung hoặc ống dẫn trứng, nơi nó hình thành lên các khối, mà cuối cùng sẽ biến thành sẹo. Những vết sẹo này phá vỡ chức năng thường nhật của các cơ quan bị ảnh hưởng. Mặc dầu là một trong những nguyên cớ chính gây hiếm muộn ở phụ nữ, căn nguyên của lạc nội mạc tử cung là không rõ ràng.

U xơ tử cung: Những khối u này không phải là những khối u ung thư. Mặc dầu không phải là một nguyên nhân chính gây hiếm muộn nữ, vấn đề này khá phổ biến và gây đau nhức, có thể làm tắc các ống dẫn trứng. Chúng cũng có thể tạo thành các vết sẹo ngăn cản trứng đã thụ tinh bám vào thành tử cung.

Căn do tâm lý: bao tay ý thức, lo âu, sợ hãi và các bệnh thần kinh như trầm cảm và rối loạn lưỡng cực có những lúc dẫn đến vô sinh ở nữ. Chẳng thể mang thai lặp đi lặp lại thường gây lên bao tay về xúc cảm, là nguyên nhân gây ra vấn đề càng trở thành tồi tệ hơn. Nguyên do tâm lý thường là tạm và có thể được chữa trị bằng thuốc và liệu pháp tâm lý.

Những nguyên nhân gây lên bệnh hiếm muộn nam

Trong xã hội ngày nay, bệnh vô sinh nam càng ngày một diễn ra phổ biến. Khi nhắc đến việc mang thai một em bé, vấn đề có thể xảy ra ở cả đàn ông và nữ giới. Mặc dù các vắng chỉ ra rằng, có nhiều vấn đề gây ra vô sinh nữ nhiều hơn nhưng các yếu tố ảnh hưởng tới đàn ông cũng phải được coi xét đến. Dưới đây là những lý do thường gặp gây ra vô sinh nam:

hiem muon nam

Hiếm muộn nam do số lượng tinh trùng thấp

Một trong những nguyên cớ chính gây lên hiếm muộn nam là số lượng tinh trùng thấp. Một vấn đề khôn xiết đơn giản: không có tinh trùng thì không có thụ tinh. Điều quan yếu là một người đàn ông phải sinh sản đủ tinh trùng để thụ tinh cho trứng của phụ nữ, và nếu vậy thiếu điều này, sẽ không có gì xảy ra. Nên có chí ít 20 triệu tế bào tinh trùng trên mỗi ml hoặc 40 triệu tế bào tinh trùng cho mỗi mẫu xuất tinh tất thảy để xem xét năng lực sản xuất của một người đàn ông, và ít hơn số lượng này sẽ được xem là số lượng tinh trùng thấp.

Vô sinh nam do sự không bình thường của tinh trùng:

Một khi bạn đã chắc chắn rằng mình có đủ tinh trùng để thụ tinh thì còn có một phần bạn nên để ý đến để có thể trở thành một người cha, là tinh trùng chẳng những đủ số lượng mà còn phải khỏe mạnh! Chúng ta sẽ thảo luận về một số sự lạ thường của tinh trùng, là một trong những nguyên nhân chính gây hiếm muộn ở nam giới:

• Đầu tinh trùng bất bình thường – đầu tinh trùng chứa toàn bộ các cấu trúc gen, và nếu bị không bình thường, nó chẳng thể thụ tinh cho trứng. Đầu tinh trùng tròn, nhọn, lớn hoặc có 2 đầu là lạ thường và là nguyên nhân gây ra tinh trùng không có khả năng thụ tinh cho trứng.

• Thân tinh trùng – thân của tinh trùng có chứa một “nhiên liệu” được gọi là fructose. Fructose cung cấp đủ năng lượng cho tinh trùng để nó có đủ sức cho cuộc hành trình của mình từ cổ tử cung vào tử cung. Thiếu fructose có thể gây trở ngại cho tinh trùng tới được trứng.

• Đuôi tinh trùng biến dạng – nếu tinh trùng không có đuôi, có hai đuôi hoặc đuôi bị cuộn, nó không có tài năng tới được trứng để thụ tinh.

Nồng độ testosterone thấp

Một nhân tố khác trong các nguyên nhân thường gặp gây vô sinh ở nam giới là nồng độ testosterone thấp hoặc thiếu hụt testosterone, được biết đến trong y học là thiểu năng sinh dục nam, có thể là bẩm sinh hoặc xuất hiện sau này. Đây là một rối loạn dịch hoàn được gây ra bởi tuyến yên hoặc vùng dưới đồi khi rối loạn kích thích tố xảy ra.

Vô sinh nam do nhiễm khuẩn

Các loại nhiễm trùng trái ngược có thể ảnh hưởng đến khả năng chuyển di của tinh trùng và tạo ra hiếm muộn. Một vài căn bệnh nhiễm trùng phổ biến là Chlamydia và bệnh lậu và các bệnh lý lây qua đường dục tình. Khả năng di chuyển của tinh trùn cũng có thể bị ảnh hưởng bởi sưng tinh hoàn, tuyến tiền liệt hoặc niệu đạo.

Sáu thức ăn ráo trọi giúp ổn định lượng glucose trong máu

Hết thảy các chứng hạ đường huyết, đái tháo đường, hoặc chứng nghiện đường có thể sinh ra từ lượng đường không bình thường trong máu. Hãy thêm những thực phẩm tẩm bổ vào trong chế độ ăn uống của bạn để có được những tác dụng ổn địnhlượng glucose trong máu chóng vánh. 

thuc pham cho nguoi tieu duong

Cá là một trong những loại thực phẩm tốt nhất giúp điều chỉnh lượng đường trong máu của bạn, chưa kể, cá còn rất tốt cho não và thân thể của bạn. Cá chứa tỷ lệ chất đạm cao, không chứa carbonhydrat, và tỷ lệ chất béo thấp.

Cá cũng giàu vitamin B, magie, kẽm và sắt. Kết hợp với tỷ lệ protein, các chất dinh dưỡng giúp ngăn cản sự tăng lên của lượng đường trong máu, chống cảm giác đói. Ăn cá từ 3-4 lần mỗi tuần, và thử ăn những loại cá khác nhau để tìm thấy loại cá hợp khẩu vị với bạn.

Sữa chua

Sữa chua là một thực phẩm nhẵn để giảm lượng glucose trong máu của bạn. Sữa chua không chứa nhiều đường, chỉ chứa carbonhydrat từ sữa. Các carbonhydrat ngấm dần dần vào trong huyết, chế phẩm sinh vật học trong sữa chua giúp tương trợ hệ tiêu hóa của cơ thể. Thêm nữa, tỷ lệ chất đạm cao trong sữa chua giúp ngăn trở sự tăng cao lượng insulin, làm tăng cảm giác no. Sữa chua cũng chứa nhiều vitamin B, kali, canxi, còn giúp chống lại bệnh cao huyết áp.

Hạnh nhân

Hạnh nhân là một trong những sự tuyển lựa hoàn hảo để cân đối lượng đường trong máu. Hạnh nhân có vị hơi ngọt và chứa rất ít carbonhydrate, nhiều protein và chất béo lành mạnh. Khoảng ¼ bát hạnh nhân sẽ cung cấp cho bạn một bữa ăn nhẹ hoàn hảo. Hạnh nhân chứa nhiều chất xơ nên có thể trì hoãn tiêu hóa, giúp điều chỉnh lượng đường trong máu. Vả lại, nó còn rất có lợi trong việc giữlàn da đẹp và trái tim bạn khỏe mạnh.

Rau lá màu xanh sẫm

Rau màu lá xanh sẫm là một trong những thức ăn ráo để ngăn lượng đường trong máu tăng cao. Rau lá màu xanh sẫm chứa nhiều crom – một khoáng chất giúp giảm insulin, ngăn lượng glucose trong máu tăng cao, thậm chí còn có tác dụng giảm cân. Rau lá màu xanh sẫm có ít carbonhydrat, chất béo và calo, nhưng rau lá màu xanh sẫm chứa đầy đủ protein, sắt, vitamin C, vitamin A, vitamin nhóm B. Bạn nên ăn rau lá xanh ít ra 2-3 lần 1 ngày.

Khoai lang

Một trong những thức ăn không làm tăng lượng glucose trong máu là khoai lang. Khoai lang là một nguồn carbohydrate phức nên có công dụng làm giảm quá trình hấp thụ glucose và bủa vây quá trình tăng insulin của thân. Ngoài ra khoai lang còn giàu chất xơ và chất đạm còn giúp no lâu nên ổn định lượng đường huyết.

Trứng

Trứng là một trong những nguồn chất đạm chay tuyệt vời, rất có thể, trứng là nguồn protein động vật tốt nhất giúp điều chỉnh lượng đường huyết. Trứng rất giàu vitamin B, và crom giúp ngăn cản cảm giác mau đói. Trứng cũng giàu protein giúp bạn no hơn trong nhiều giờ nên bạn không lo bị tụt đường huyết do đói.

Những thói quen ăn uống gây bệnh đái tháo đường

Không ít người đã tự đẩy mình vào nguy cơ mắc bệnh, kể cả bệnh đái tháo đường do ăn uống phản khoa học.
Thói quen ăn uống lành mạnh giúp duy trì sức khỏe của con người. Nhiều người tinh thần được điều đó nhưng ít người thực hành được lề thói này. Không ít người đã tự đẩy mình vào nguy cơ mắc bệnh thậm chí là bệnh nghiêm trọng do ăn uống phản khoa học. Dưới đây là những lề thói ăn uống có thể gây bệnh đái tháo đường bạn nên biết:

thoi quen an uong benh dai thao duong
1. Ăn uống không khoa học
Có câu: “Bạn hãy ăn sáng như một vị vua, ăn trưa như một hoàng tử và ăn tối như một kẻ người nghèo khổ”. Nhiều người biết những đã đảo lộn trật tự đó, thành tựu là ăn rất nhiều vào buổi tối và vội vàng bắt đầu ngày mới với chỉ cốc nước cam. Điều này dẫn đến nguy cơ cao hơn bị bệnh béo phì và tiếp theo đó là tiểu đường vì mức insulin trong thân thể sẽ bị rối loạn.
Hoặc nếu bạn không ăn ít ra 3 bữa/ngày, ăn 6 bữa vào một ngày khác, ngày sau đó không ăn gì và đấu thực hiện thói quen ăn uống “chẳng giống ai” như thế lâu dài thì thân thể bạn sẽ bị rối loạn và không biết xử lý insulin như thế nào. Đây là một trong những căn do dễ dẫn tới những bệnh như bệnh tiểu đường, rối loạn tiêu hóa…
Không ít người đã tự đẩy mình vào nguy cơ mắc bệnh, kể cả bệnh đái tháo đường do ăn uống không hợp lý. Ảnh minh họa
2. Thích đồ ngọt
Một điều quan yếu khi ăn uống tránh bệnh đái tháo đường là giới hạn ăn đường. Nếu bạn là người thích đồ ngọt, bạn cần biết về hạn chế dùng đường, sử dụng bao nhiêu là an toàn cho bạn. Bạn không nên dùng những món ăn dẫn đầu về hàm lượng đường vì nó sẽ làm tăng nguy cơ bệnh đái tháo đường của bạn.
3. Thích đồ ăn nhanh
Nếu bạn ăn các dạng thực phẩm chứa nhiều dầu, mỡ như Pizza, bánh kếp hoặc gà rán, bạn sẽ có nguy cơ cao hơn bị đái tháo đường típ 2. Thực phẩm chứa nhiều dầu mỡ và chất béo làm tăng axít béo và triglycerid. Đây là lý do tạo ra đái tháo đường týp II. Các axít béo thừa thãi trong máu và triglycerid ức chế hoạt động của insulin, dẫn tới lượng insulin trong máu vẫn bình thường hoặc chỉ hơi tăng nhưng đường trong máu của người bệnh lại trong tình trạng bị cao.
Hãy cắt giảm hết thảy những món ngon có hại này và thay thế bằng những thức ăn lành mạnh hơn như  thức ăn được chế biến với dầu ô liu, pho mát ít béo, đậu phụ…
4. Uống nhiều bia rượu
Loại calo thân thể bạn tích trữ trong những cuộc chè chén là không tốt. Thân thể ngay tức thì chuyển sang dự trữ chất béo và trong khi bạn cảm thấy ráo trọi khi được tận hưởng những món ăn ngon cũng là thời điểm thân thể bạn đang tiến gần tới bệnh tiểu đường.
Rượu làm tình trạng hạ đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường nặng hơn và khó khôi phục hơn. Khi một người có đường huyết hạ thấp, cơ thể sẽ phản ứng bằng cách tăng cường phóng thích đường glucose dự trữ tại gan. Thế nhưng rượu sẽ ức chế quá trình này.

Tiểu đường và những biến chứng đáng cảnh báo.

Tiểu đường được tin là một căn bệnh giết người thầm lặng, gây tỉ lệ tử vong cao như ung thư hay HIV, những không an toàn mà tiểu đường gây ra cho người bệnh không thể hiện cụ thể và ngay lập tức mà mang thuộc tính “âm ỉ”, đến khi thấy biểu hiện thì đã quá muộn.

dai thao duong

Thường thường, những hậu quả khủng khiếp nhất mà người bị đái tháo đường gặp phải đến trực tiếp từ những biến chứng không an toàn mà bệnh lý này gây ra.

Thương tổn tâm thần ngoại vi là biến chứng thường gặp nhất ở bệnh nhân tiểu đường, trong đó triệu chứng ở chân là nghiêm trọng hơn cả: khô da, nứt nẻ, chai chân, lở loét, sưng phù và điều trị không khỏi… thương tổn thần kinh ngoại vi dễ dẫn tới nhiễm khuẩn, hoại tử, gây loét và có thể phải cắt cụt chi để bảo toàn tính mệnh.

Các bệnh về mắt như giảm nhãn lực, đục thủy tinh thể, quáng gà, mù lòa… Cũng là các biến chứng phổ biến. Do lượng đường huyết trong mạch huyết cao, làm những mạch huyết nhỏ tại võng mạc bị tắc nghẽn, có thể bị vỡ gây tấy đỏ, sưng ứ gây ra thương tổn mắt và các bệnh võng mạc.

Những người cao tuổi mắc đái tháo đường thường có nguy cơ cao mắc các bệnh về tim mạch, mỡ huyết và đột quỵ, rất dễ gây tử vong.

Không chỉ thế, người bị đái tháo đường lâu năm thường mắc phải các biến chứng về răng miệng do lượng đường trong máu cao dễ gây sâu răng, hôi miệng, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống và sinh hoạt hằng ngày của người bệnh.

Bệnh nhân tiểu đường cũng rất dễ bị nhiễm trùng và có thể bị nhiễm khuẩn ở bất kỳ bộ phận nào, tiêu biểu như: răng lợi, lợi, nhiễm khuẩn da gây mụn nhọt, nấm, nhiễm trùng đường tiết niệu bàng quang, thận… Và một hệ quả nghiêm trọng phổ biến ở các bệnh nhân tiểu đường là phải tháo khớp chi (còn gọi là hiện tượng đoản chi)..

Chính vì những biến chứng nguy hiểm nêu trên mà đái tháo đường được cho là căn bệnh “gặm mòn” sức khỏe của con người lặng thầm. Đồng thời, nếu người bệnh không hữu ý thức tránh xarượu, bia, thuốc lá thì rủi ro mắc các biến chứng càng cao. Phần lớn người mắc đái tháo đường hiện nay đều ráng sức kiểm soát lượng đường huyết duyệt ăn uống, luyện tập thể dục hàng ngày và sử dụng thuốc điều trị. Việc này có thể giới hạn phần nào sự hiện diện của các biến chứng không mong muốn nhưng chế độ ăn uống kiêng khem khe khắt cũng gây hóc búa cho không ít người bệnh như liên tục cảm thấy đói, mệt trong người do thiếu chất, sức khỏe và sức đề kháng suy giảm…

Phương pháp điều trị bệnh tiểu đường tốt nhất

Đái tháo đường, còn gọi là Bệnh tiểu đường hay Bệnh dư đường, là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm liên quan trong cơ thể, trong thời đoạn mới phát thường làm người bệnh đi tiểu nhiều, tiểu ban tối và do đó làm khát nước.

dieu tri benh tieu duong

Bệnh đái tháo đường có thể phòng ngừa và điều trị. Nhưng những biến chứng của bệnh tiểu đường là cực kỳ không an toàn:

– Tim mạch: cao huyết áp, xơ vữa động mạch, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim

– Thận: đạm trong nước đái, suy thận

– Mắt: đục thủy tinh thể, mù mắt

– Tâm thần: dị cảm, tê chân tay

– Nhiễm khuẩn: da, đường tiểu, lao phổi, nhiễm khuẩn bàn chân…

– Tử vong.

Với những biến chứng nguy hiểm của đái tháo đường, bên cạnh đó là chế độ ăn khắt khe. Bệnh nhân tiểu đường rất khó có thể bổ sung được đầy đủ dinh dưỡng vào thân thể bằng những loại thực phẩm thường thường.

Tảo quạ Spirulina là một loại thực phẩm lý tưởng cho người bị tiểu đường vì :

Trong tảo giàu những khoáng vật thiên nhiên như Sắt, Canxi, Kali, Magie,… Kỳ lạ là Kẽm – loại khoáng chất người tiểu đường cực kỳ thiếu do chế độ ăn phải hạn chế các dạng thịt động vật, hải sản, do đó Tảo ác vàng Gold Plus được bổ sung thêm Kẽm, chỉ cần 3g Tảo kim ô Gold Plus có thể bù đắp 20% lượng Kẽm cấp thiết trong ngày. Vả lại, việc bổ sung một lượng lớn các chất chống oxi hóa như phycocyanin, chlorophyll… Từ Tảo ác sẽ tăng cường sức đề kháng cho người bị tiểu đường dễ bị suy giảm miễn dịch do chế độ ăn kiêng thiếu chất.

Thêm vào đó Tảo màng tang với lượng Vitamin dồi dào, khác thường là Vitamin A, và Zeaxanthin là những chất được Hiệp hội nhãn khoa Hoa Kỳ khuyên sử dụng có  chức năng bảo vệ  các mao mạch, các dây tâm thần ở võng mạc, giúp cho bệnh nhân tiểu đường sáng mắt, hạn chế các biến chứng về mắt mà người đái tháo đường lâu năm hay bị. Trong tảo còn chứa Phenylalanine tác dụng lên trọng tâm thèm ăn ở não bộ làm giảm các cơn đói dày vò đồng thời nó giữ cho lượng glucose trong máu ở mức bình thường. Với Phycocyanin và Chlorophyll là những hoạt chất sinh vật học quý báu giúp thanh lọc thải độc cho thân thể, acid GLA  và vitamin K ( 3 gr Tảo ác tương đương 20 % lượng vitamin K cần thiết/ ngày, giúp đốt lượng mỡ thừa giúp cho thân người bị tiểu đường hạn chế biến chứng về tim mạch khác thường là xơ vữa động mạch.

Tảo thái dương thiên nhiên và Tảo Mặt trời Gold Plus

Với hàm lượng dinh dưỡng: tỷ lệ Carbohydrate 15-25%, hàm lượng Đạm thực vật dễ tiêu từ 8 loại axit amin không thay thế từ 55-75%, hàm lượng chất béo 0%, không chứa đường , tinh bột  bởi vậy tảo Mặt trời là một nguồn thức ăn tự nhiên cân đối, hoàn hảo rất an toàn cho người  bị đái tháo đường đồng thời hỗ trợ kiểm soát một cách hiệu quả lượng glucose trong máu.

Để điều trị tối đa cho người bị tiểu đường: Mỗi ngày chỉ cần 6 viên Tảo ác Gold vào buổi sáng, 6 viên Tảo quạ thiên nhiên vào buổi trưa  và tối trong 2 tháng đầu tiên khi uống tảo  dữ sẽ tương trợ điều trị cho người bị tiểu đường hữu hiệu nhất. Sau đó nên dùng liều duy trì từ 6-12 viên Tảo Gold/ ngày hoặc Tảo Mặt trời tự nhiên để ổn định đường trong máu, hỗ trợ cho hệ miễn dịch cho sức khỏe bền vững.

Đồng thời với việc uống  Tảo thái dương trong chữa trị bệnh tiểu đường người bệnh cần có chế độ ăn uống và vận động hợp lý:

Ăn uống:

Giới hạn các dạng chất bột đường, chất béo (mỡ động vật)  và những thức ăn giàu năng lượng rỗng như: bánh kẹo, nước ngọt,…

Giới hạn mức đường ăn vào thân thể ở mức tối tiểu, nên dùng các chất tạo vị ngọt tự nhiên để thay cho đường như chiết xuất từ cây cỏ ngọt

Tăng cường cung cấp cho thân thể chất xơ: rau xanh, hoa quả.

Ăn đa dạng các loại thực phẩm trong một ngày, ăn có mức độ: không nên để quá đói cũng như không nên ăn quá no, nên ăn những thực phẩm càng gần với tự nhiên càng tốt vì nó không làm mất đi những thành phần dinh dưỡng trong thức ăn.

Vận động:

– Chơi thể thao hơn 30 phút trong phần đông các ngày

– Tập thể dục khoảng 1giờ/ngày trong đại đa số các ngày

– Năng động trong mọi cử động, bước khoảng từ 5.000-10.000 bước chân/ngày.

– Giữ vệ sinh cá nhân chủ nghĩa tốt, thẩm tra glucose trong máu  hàng tháng và soát mắt hàng quý.