chua-thoat-vi-dia-dem-co

Biểu hiện phổ biến của bệnh thoát vị đĩa đệm

Việc phát hiện sớm bệnh thoát vị đĩa đệm duyệt những triệu chứng của căn bệnh và điều trị kịp thời giúp bệnh nhân đạt hiệu quả sớm nhất.

chua-thoat-vi-dia-dem-co

1.1. Lâm sàng.

– Tình cảnh phát bệnh: thường xuất hiện sau một chấn thương hay gắng sức của cột sống.

– Tiền sử: thường bị đau nhói lưng tái phát nhiều lần.

– Phát triển: bệnh thường mở mang theo 2 tuổi:

+ Tuổi đau cấp: Là tuổi đau ê ẩm vùng lưng cấp xuất hiện sau một chấn thương hay gắng công. Về sau mỗi khi có những gắng sức tương tự thì đau lại tái phát. Ở tuổi này có thể có những biến đổi của vòng sợi trồi ra sau, hoặc hết thảy đĩa đốt sống nhô ra sau mà vòng sợi không bị tổn thương.

+ Giai đoạn gây áp lực rễ: Đã có những triệu chứng của kích thích hay gây áp lực rễ tâm thần, xuất hiện các biểu hiện của hội chứng rễ: đau lan xuống chi dưới, đau tăng khi đứng, đi, nhảy mũi, rặn… Nằm nghỉ thì đỡ đau. Ở giai đoạn này vòng sợi đã bị đứt, một phần hay tất thảy nhân nhầy bị tụt ra phía sau (thoát vị sau hoặc sau bên), nhân nhầy dịch chuyển gây ra áp bức rễ. Bên cạnh đó, những đổi thay thứ phát của thoát vị đĩa đệm như: phù nề các mô xung quanh, ứ đọng tĩnh mạch, các quá trình dính… Làm cho triệu chứng bệnh tăng trưởng. Triệu chứng lâm sàng tiêu biểu với hai hội chứng: cột sống và rễ thần kinh.

– Các hình thức thoát vị đĩa đệm:

+ Thoát vị đĩa đệm thành một khối: do gấp mạnh đốt sống thắt lưng nên một phần nhiều hay cả khối nhân bị lồi xuyên qua dây chằng dọc sau. Về biểu hiện do áp bức rễ đột ngột nên sớm xuất hiện liệt cơ và rối loạn cơ vòng.

+ Thoát vị đĩa cột sống hai bên: phía sau của vòng sợi có thể bị hư ở cả hai bên làm các mảnh vỡ nhân nhầy trồi ra cả hai bên cùng một lúc hoặc hai lần khác nhau, do đó bệnh nhân có thể bị đau cả hai bên cách nhau hoặc cùng một lúc.

+ Thoát vị đĩa đốt sống nhiều nơi (đa tầng), những không nhất quyết phải ở các đĩa đốt sống kế bên, và cùng một bên.

+ Thoát vị đĩa đệm nhân nhầy bị kẹt: nhân nhầy lồi qua vòng sợi có thể bị kẹt giữa các mép thân đốt sống kề nhau gây cơn đau đột ngột ở vùng thắt lưng. Đau tăng khi hoạt động cột sống, có thể kèm theo đau dây thần kinh hông to nặng. Đau có thể biến mất đột ngột khi nhân nhầy hết bị kẹt.

1.2. Cận lâm sàng.

1.2.1. X quang thường (thẳng – nghiêng):  Tam chứng Barr:

– Gẫy góc cột sống lưng.

– Xẹp đĩa cột sống.

– Mất ưỡn cong sinh lý.

1.2.2. Chụp X quang bao rễ cản quang.

Sử dụng các thuốc cản quang có Iod, không ion hóa, không độc với tủy sống (như Amipaque, Lipamiro…) Bơm vào bao rễ tâm thần, rồi chụp phim thẳng, nghiêng và chếch 3/4 phải và trái.

Trên phim chụp bao rễ, ta thấy hình ảnh bao rễ bị chèn ép có thể cắt cụt một rễ hay tất thảy bao rễ. Thi thoảng chỉ thấy dấu hiệu “đồng hồ cát” hoặc các trường hợp chèn ép bao rễ nhẹ. Đồng thời chúng ta có thể biết được chuẩn xác vị trí đĩa xương sống thoát vị, và thể thoát vị ra sau hay sau bên.

1.2.3. Chụp cộng hưởng từ (MRI).

Chụp cộng hưởng từ (MRI): là xét nghiệm số 1 để đánh giá về cột sống kỳ lạ là trong chẩn đoán thoát vị đĩa cột sống, cho phép loại trừ các tổn thương bên trong tủy sống: trên ảnh MRI tổ chức có nhiều nước bị giảm tín hiệu trên ảnh T1 và tăng tín hiệu trên ảnh T2. Đĩa xương sống thông thường có ranh giới rõ, giảm tín hiệu trên T và tăng tín hiệu trên T2 do có nhiều nước. Các đĩa đệm thoái hóa do không có nước nên trên T2 tín hiệu không tăng so với các đĩa cột sống khác. Khối đĩa đốt sống thoát vị là phần đồng tín hiệu với đĩa đệm và nhô ra phía sau so với bờ sau thân đốt sống và không ngấm thuốc đối quang từ. Các ảnh cắt dọc giúp đánh giá tất cả cột sống, vị trí và số tầng thoát vị. Các ảnh cắt ngang cho thấy các kiểu thoát vị (trung tâm, cạnh trọng tâm và lỗ ghép). Kết hợp hình ảnh cắt dọc và ngăng đánh giá được chừng mực thoát vị áp chế vào tuỷ sống và rễ thần kinh, gây đè ép khoang dịch não tủy và phù tủy cùng mức. Các chi tiết về xương trên MRI cho hình ảnh không rõ lắm.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *